Quan Công còn “kém xa” Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn

[2017/11/24 | Tài Liệu » Lịch sử VN | admin | Nhận xét(0) | Đọc(46) ]
Quan Công còn “kém xa” Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn

Thứ năm, 23/11/2017

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới


(Bạn đọc) - Mặc dù là câu chuyện cách đây đã lâu, dự án xây dựng tượng Quan Công cũng đã không được thực hiện, nhưng nay lại được dư luận mang ra bàn tán. Ở một góc độ xây dựng tượng đài phù hợp với đất nước, hãy thử xem Quan Công còn “kém xa” bậc anh hùng dân tộc nào của Việt Nam?



Câu chuyện về việc năm 2015, một doanh nghiệp đề xuất với cơ quan chức năng tỉnh Sóc Trăng, xem xét dự án xây dựng hạng mục từng được gây chú ý nhất là bức tượng Quan Thánh Đế Quân (Quan Công), cao 36 mét.

Cữ ngỡ câu chuyện này sẽ không còn được nhắc lại. Nhưng ở các trang tin tức, các trang mạng xã hội, diễn đàn khác nhau lại liên tục đưa thông tin về sự việc này, gây ra những hiểu nhầm, dư luận bị “dắt mũi” bởi vào các nguồn tin không chính thống.

Lịch sử Việt Nam lừng lẫy những chiến công nhờ tài năng của các anh hùng dân tộc

Trong vấn đề bàn luận hôm nay, chúng ta cần phải chỉ ra rõ được việc nếu xây tượng đài nhìn ra biển, thì xây dựng tượng đài anh hùng dân tộc nào của Việt Nam là phù hợp?


Quan Công – là người như thế nào?

Trước hết, chúng ta phải khẳng định một điều – đó là, Quan Công không phải là một anh hùng dân tộc của Trung Quốc, cũng không có vai trò đóng góp gì đối với lịch sử dân tộc Việt Nam.

Dưới ngòi bút của La Quán Trung, thì nhân vật Quan Công đã được tiểu thuyết hóa trong Tam quốc diễn nghĩa. Quan Công trở thành hình tượng vĩ đại nhất của thời đại phong kiến Trung Hoa, là biểu tượng về Đạo đức tiêu chuẩn: Trung – Hiếu – Lễ – Nghĩa – Nhân – Dũng.

Vì hình tượng vĩ đại đó, Quan Công được tôn xưng làm Võ Thánh – được nhân dân Trung Hoa tôn thờ đến mức là Quan Thánh Đế Quân. Tầm ảnh hưởng đó còn tác động tới lịch sử, văn hóa xã hội của các nước láng giềng như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và thế giới.
Xét về vị thế võ tướng trong lịch sử nhân loại, thì hiếm có nhân vật nào được tôn thờ và ảnh hưởng lớn đến tôn giáo, tín ngưỡng dân gian như Quan Công.

Quan Công có tầm ảnh hưởng lớn nhờ ngòi bút của La Quán Trung trong Tam Quốc diễn nghĩa

Được nhân dân Trung Hoa biết đến và thờ cúng như một vị thần. Giới thương nhân coi ông như một vị “thần tài” (vì thửa nhỏ ông từng làm nghề bán đậu phụ); giới nho sĩ thì coi ông là một vị thần văn học (bởi tượng về ông đa phần khắc họa trên tay cầm cuốn Kinh Xuân Thu); giới quân sự coi ông như vị thần bản mệnh (vì tài năng quân sự, sức mạnh và sự uy dũng).


Trần Hưng Đạo – Đức Thánh Trần của dân tộc Việt mà Quan Công khó sánh bằng

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Nếu muốn chứng minh Quan Công không thể bằng Hưng Đạo đại vương – Trần Quốc Tuấn, thì có thể lấy những minh chứng dưới đây:

Thứ nhất, nhân cách con người

Dù có ngựa Xích Thố, có Thanh Long Yểm Nguyệt đao, có tướng uy phong lẫm liệt. Thì cũng không thể bằng vóc dáng nhỏ bé, đức tính giản dị của Trần Quốc Tuấn.
Bởi xét về tài năng ở Tam Quốc, thì Quan Công có võ công còn thua xa Lữ Bố, uy dũng thua Trương Phi, mưu lược thua Lã Mông. Đặc biệt là cái tính kiêu ngạo là con đường dẫn đến cái chết của ông.

Trần Quốc Tuấn (1231 – 1300) không là nhà chỉ huy quân sự kiệt xuất, anh hùng dân tộc, nhà văn hóa vĩ đại trong lịch sử Việt Nam. Tên tuổi của ông không chỉ gắn liền với chiến công Bạch Đằng, mà dưới sự lãnh đạo của Trần Quốc Tuấn, Đại Việt ta đã ba lần kháng chiến đánh thắng giặc Nguyên – Mông năm 1258, 1285 và 1288 trong khi cả Châu Á – Âu chịu thua trước vó ngựa Nguyên – Mông.

Thứ hai, vượt qua sự Trung – Hiếu của bậc thánh nhân

Nếu Quan Công luôn thể hiện tính Trung – Hiếu với Lưu Bị; Quan Công, Lưu Bị và Trương Phi coi nhau như an hem, thề sống chết có nhau.
Thì lòng Trung – Hiếu của Trần Hưng Đạo cũng không hề thua Quan Công. Lịch sử có ghi lại giai thoại rằng: Trên đường từ Nam Định lên vùng Đông Bắc, ở cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ 2 (năm 1285). Để tránh sự truy đuổi của giặc, ông yêu cầu để mình hộ vệ vua Trần Nhân Tông và Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông. Mặc dù trước đó, thân sinh của Trần Hưng Đạo là Trần Liễu có hiềm khích với vùa Trần Thái Tông (là vị hoàng đế đầu tiên của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam), trước khi chết có lời trăn trối: “Con phải trả thù cho cha, rồi nhân đó, đoạt luôn ngôi báu thì cha mới có thể thanh thản yên nghĩ dưới suối vàng”.

Khi đó, Trần Hưng Đạo đã là bậc lão thần, luôn mang theo một chiếc gậy ở đầu có bịt sắt. Nên trong tình cảnh đó, một số người tỏ ý lo ngoại, vì thế ông bèn vứt mũi sắt đi để tỏ lòng thành với vua.

Thậm chí, Trần Hưng Đạo còn là một người biến biến thù thành bạn, trừng phạt chính con trai của mình về tội bất hiếu với vua – bất trung với nước.
Trần Quốc Tuấn là anh em con bác của Trần Quang Khải, 2 người vốn trước không hoà hợp với nhau. Nhưng một lần, ông đã chủ động mời Thái sư Trần Quang Khải sang thuyền mình trò chuyện, chơi cờ và sai nấu nước thơm tự mình tắm rửa cho Quang Khải.

Rồi một chuyện khác, trong những năm tháng cuối đời, Trần Quốc Tuấn đã đem chuyện cha mình (là Trần Liễu) muốn ông trả thù để dò ý các con. Chỉ có riêng Trần Quốc Tảng là có ý muốn ông cướp ngôi vua, ông nổi giận định rút gươm toan chém chết con trai Trần Quốc Tảng.

Dù là mối thù hoàng tộc, nhưng Trần Quốc Tuấn đã cư xử hoàn toàn khác. Ông không vì thù nhà, mà rời bỏ quyền lợi của đất nước và nhân dân lên hàng đầu. Có thể nói, Trần Quốc Tuấn còn đã góp phần xây đắp mối đại đoàn kết của dòng họ nhà Trần, tạo nên “Hào khí Đông A”.
Đó là cái mà Quan Công không bao giờ làm được.

Thứ ba, Quan Công “nhiều dũng nhưng ít trí”

Dân gian vẫn thường nói: “Quân tử nhất ngôn”, làm người quân tử nói ra một lời không thể lấy lại được. Vậy nên, làm người quân tử phải quan trọng lời nói, nhưng cũng phải biết nghĩ trước khi nói.

Quan Công đã không hiểu điều này, câu nói mà Quan Vũ mắng sứ giả của Tôn Quyền rằng: “Hổ nữ sao có thể gả cho khuyển tử”. Lúc đó là khoảng thời gian năm 213 -214, trong việc Tôn Quyền tung ra một quân bài hôn nhân chính trị, bằng việc xin Quan Công gả con gái cho con trai mình.

Câu nói miệt thị Tôn Quyền của Quan Vũ trở thành “điểm nhấn” trong sự rạn nứt liên minh giữa nhà Ngô – Hán. Để dẫn tới sự nổi lên của Lữ Mông ở Đông Ngô báo hiệu “ngày tàn” của kẻ vốn có tính tự phụ, ngạo mạn và không có tầm nhìn chính trị này.

Còn Trần Quốc Tuấn thì khác, ông nổi tiếng với câu nói: “Bệ hạ hãy chém đầu thần trước đã, rồi hãy hàng” tượng trưng cho khí phách Đại Việt, cho đỉnh cao của lòng yêu nước làm rực sáng dân tộc đến ngàn thu.

Thứ tư, về tài năng quân sự giữa Quan Công và Trần Quốc Tuấn

Trong 8 nhà quân sự nổi tiếng của lịch sử Trung Hoa, không hề đề cập tới cái tên Quan Công.

Nhưng nếu nói nhà quân sự số 1 của lịch sử Việt Nam, thì cái tên Trần Quốc Tuấn luôn ở vị trí số 1. Trong 10 nhà quân sự nổi tiếng nhất thế giới, thì có tới 2 vị anh hùng của Việt Nam, đó là Hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Quan Công gần như không có các tác phẩm, mưu lược quân sự nào bởi cái tính thô lỗ, thiếu tầm nhìn chính trị và không coi trọng mưu lược quân sự của Lưu Bị.

Còn Trần Hưng Đạo đã để lại 3 tác phẩm quân sự có thể nói là kiệt tác, đó là: Hịch tướng sĩ; Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư. Với chính sách “ngụ binh ư nông”; “Khoan thứ sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy“, của ông qua bao triều đại phong kiến vẫn còn áp dụng.


Trần Quốc Tuấn nổi tiếng với bài Hịch tướng sĩ


Trong đền Ngọc Sơn – Quan Công và Trần Quốc Tuấn ai ở vị trí cao hơn?


Hiện nay, ở Việt Nam chưa có thống kê cụ thể về số lượng các nơi thờ tụng Quan Công. Nhưng một sự thật ở đền Ngọc Sơn trên Hồ Gươm (Hà Nội) cho thấy, Quan Công đứng hàng vị gian tiền, còn Hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn được thờ cúng ở ngôi vị của gian hậu.


Đề Ngọc Sơn là nơi thể hiện tư tưởng Tam giáo đồng nguyên của người Việt.

Trên báo Văn hóa Nghệ An có miêu tả việc thờ cúng các nhân vật ở trong đền: “Gian tiền có biển đề “Văn Xương đế quân” bằng chữ nho khá to treo bên cột. Trên ban thờ, đằng trước là tượng một ông mặt đỏ, râu đen có biển đề: “tượng thần Quan đế”; tiếp đó, ngồi cao hơn một chút là “tượng Lã Tổ” ; tiếp nữa, ngồi cao hơn hẳn trong một cái khám thờ khá rộng là “tượng Văn Xương đế quân”. Bước vào hậu cung ta thấy ngay một khám thờ lớn đặt trên cái bệ cao vượt bệ gian ngoài, trong đó ngự một pho tượng có biển đề: “Tượng đức thánh Trần Hưng Đạo”. (Các biển đề tên tượng đều bằng chữ quốc ngữ)”.

Nếu như vậy, thì việc thờ các vị thánh, thần, tiên, Phật. Thì Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn được tôn ở vị trí cao nhất, thuộc bậc thánh nhân. Ở Việt Nam hiện nay, có hai anh hùng được nhân dân tôn sùng và phong thánh, đó là Thánh Gióng và Trần Quốc Tuấn.

Còn Quan Vũ chỉ được coi là một vị thần, để nhân dân cầu mong trừ tà ma, cầu tài lộc,…

Lịch sử của nước tranh quyền đoạt vị và nước đại đoàn kết dân tộc

Trong cả quá trình lịch sử dân tộc Trung Quốc, chủ yếu là những cuộc nội chiến, chiến tranh giữa các dân tộc triền miên, liên tục kéo dài để tranh quyền đoạt vị. Có thể kể đến như: Thời Tam Quốc (220 – 280); Thập Lục Quốc (304 – 439); Nam – Bắc triều (420–589); Ngũ Đại (907-960) và Thập Quốc (907-979);…

Vì vậy, việc quân Mông Cổ, Mãn Thanh, Anh, Nhật Bản xâm lược dân tộc to lớn này dù dân số gấp 10 lần, nhưng cũng không thể phản kháng và phải chịu sự “Đồng hóa”. Việc người Mãn Châu lập ra nhà Thanh và bắt nhân dân triều Minh để tóc đuôi sam là một ví dụ.

Việt Nam ngược lại, nội chiến không phải không có, nhưng trong bất kỳ một hoàn cảnh lịch sử nào. Sức mạnh dân tộc ấy cũng có thể trở thành một khối đại đoàn kết lớn mạnh. Thậm chí, khi mà Đế quốc Mông Cổ xâm lược, nhà Tống lớn mạnh nhưng cũng chịu thua. Thì trên thế giới chỉ có Nhật Bản, Đại Việt là 2 quốc gia đánh bại được đế quốc này.


Trận Bạch Đằng ghi nhận công lao của dân tộc Việt, đặc biệt của Trần Quốc Tuấn

Dân tộc Việt Nam trải qua 4 cuộc Bắc thuộc, đó là: Bắc thuộc lần I (207 TCN – 40); Bắc thuộc lần II (43 – 541); Bắc thuộc lần III (602 – 905) và Bắc thuộc lần IV (1407 – 1427). Nhưng dù có gần 1000 năm Bắc thuộc như lần I, thì Đại Việt vẫn không hề bị đồng hóa về mặt văn hóa và giữ nguyên được giá trị cốt lõi của dân tộc.
Thậm chí, sức mạnh dân tộc nhỏ bé này đủ để tự hào:

“Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”.
(trích Bình Ngô Đại Cáo – Nguyễn Trãi)

Và:
“Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để đen răng
Đánh cho nó chích luân bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Đánh cho sử tri nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.
(trích câu nói của Hoàng đế Quang Trung)

Sự thật, thì Quan Vũ là một nhân vật được hình tượng hóa văn học, hơn là hình tượng của một nhân vật lịch sử. Trong vai trò lịch sử thì cũng chỉ là mãnh tướng nhiều dũng nhưng ít trí; có tín nhưng thiếu nghĩa; vì mải võ mà quên văn.

Bằng những đánh giá và nhận xét trên, nếu để so sánh với Trần Hưng Đạo, thì Quan Công còn thua xa. Vậy nên, trong việc lựa chọn xây dựng tượng đài như thế nào, nhất là tượng đài hướng ra biển Đông. Thì tốt nhất chúng ta sẽ chọn anh hùng dân tộc, hay chọn hình tượng của nước khác. Nhất là khi mối quan hệ giữa biển Đông giữa Việt – Trung hiện nay không được tốt đẹp.

CTV Đinh Lực

http://trandaiquang.org/quan-cong-con-kem-xa-hung-dao-dai-vuong-tran-quoc-tuan.html

-------------------

ĐỌC THÊM


THỜ TƯỢNG TRẦN HƯNG ĐẠO HAY QUAN CÔNG

Chọn thờ tượng Hưng Đạo Vương Trần quốc Tuấn hay quan công, quan vân trường? làm một phép so sánh trước khi lựa chọn

Chọn Thờ Tượng Trần Hưng Đạo - Trần Quốc Tuấn Hay Tượng Quan Công -  Quan Vân Trường?

Đây là câu hỏi mà không ít người thích chơi tượng đồng phong thủy thắc mắc, nhưng không hẳn ai cũng rõ về hai vị tướng được sử dụng nhiều nhất trong phong thủy ngày nay. Vậy chúng ta hãy cùng đưa ra phép so sánh để có cái nhìn thấu đáo hơn trong cách chọn lựa chơi tượng phong thủy.


Tượng trần hưng đạo và tượng quan công cao 75cm dát vàng


I. HƯNG ĐẠO VƯƠNG: TRẦN QUỐC TUẤN (1226 - 1300)

Trần Quốc Tuấn quê Nam Định, văn võ song toàn, phụ thân là Trần Liễu, khi sắp mất trăng trối: “Con không vì cha lấy thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được”. Do Lý Chiêu Hoàng chưa có con nối dõi, Trần Thủ Độ bắt vợ Trần Liễu có thai 3 tháng về làm vợ Trần Cảnh.

Khi vua Trần phong ông chức Tiết Chế (như Nguyên soái), binh quyền trong tay. Vương luôn đặt quyền lợi quốc gia, trên quyền lợi gia đình, quên thù nhà, một lòng sắt son lo quốc gia.

Năm 1284, quân Nguyên sắp sửa xâm lăng nước ta lần thứ 2, thế giặc quá mạnh, vua thử hỏi: “Trẫm muốn hàng để tránh binh đao cho muôn dân bá tánh”. Vương thưa: “Nếu bệ hạ muốn hàng, xin chém đầu thần trước đã”. Ông còn chủ trương “Tận dân vi binh” (mỗi người dân là một người lính), ông huy động toàn dân kháng chiến, trên dưới một lòng, cùng chống giặc cứu nước.

Năm 1287-1288, quân Mông Cổ xâm lược nước ta lần thứ ba. Dưới lòng sông Bạch Đằng, Vương cho đóng cọc, khi thuỷ triều lên đem quân khiêu chiến, thủy triều xuống, cho quân sĩ đồng loạt phản công, giặc Nguyên đại bại.

Vương là vị tướng tài đức lỗi lạc:

- Là tướng nhân, thương quân và dân như ruột thịt.

- Là tướng nghĩa, vì nghĩa nước mà quên thù nhà.

- Là tướng trí, Vương có kế sách đánh đuổi quân Nguyên xâm lăng Đại Việt. Vương thấy rõ nếu ngành trưởng (Trần Liễu, Trần Quốc Tuấn) và ngành thứ (Trần Cảnh, Trần Quang Khải) mà bất hòa, thì kẻ có lợi là quân thù, nên Vương đã chủ động giao hảo hòa hiếu với Trần Quang Khải, tạo nên sự thống nhất ý chí vương triều nhà Trần, nhờ vậy mới đánh đuổi được quân Nguyên rất hung hãn. Vương sáng suốt đề cử hiền tài ra giúp nước, không phân biệt thành phần xã hội, nên những vị ấy đã hăng hái góp sức rất lớn trong việc đánh đuổi quân Nguyên, như: Dã Tượng, Yết Kiêu, Phạm Ngũ Lão. Người có tội đang bị phạt, mà có tài như Trần Khánh Dư, cũng được Vương xin vua xá tội, để hợp sức chống giặc. Vương luôn hộ giá vua, tay chống gậy đầu bịt sắt, người ta xầm xì sợ Vương giết vua, Vương cho tháo bỏ phần bịt sắt ở đầu gậy, để tránh hiềm nghi, nên vua quan, quân dân đều yên lòng và kính trọng Vương hơn.

- Là tướng tín, Vương luôn giữ lời hứa và thưởng phạt nghiêm minh, chỉ bảo điều hay lẽ phải cho tướng sĩ biết, như hịch Tướng sĩ...

Trần Hưng Đạo là vị tướng phi thường, Vương soạn cuốn “Binh thư yếu lược” và “Vạn Kiếp bí truyền thư” để chỉ dẫn cho các thuộc tướng cầm quân đánh giặc. Vương còn viết “Hịch tướng sĩ” để truyền dạy tướng sĩ biết thế nào là nhục nhã nếu giống nòi bị ngoại xâm cai trị, khích lệ lòng can trường để đánh đuổi quân Nguyên đang xâm lược nước ta. Lời lẽ hào hùng, ai nghe xong lòng cũng cảm kích và sôi sục, từ đó khẳng định văn chương của Hưng Đạo Vương là một bậc đại bút.

Khi Vương sắp mất, vua Trần Anh Tông đến thăm và hỏi: “Nếu chẳng may ông mất, rồi giặc phương Bắc lại sang xâm lấn Đại Việt, thì ta phải dùng kế sách gì”. Vương trăng trối lời tâm huyết sâu sắc mà những người đang lèo lái quốc gia nên nghiền ngẫm: “Quân địch ào ạt tràn đến như lửa, như gió, thế ấy dễ trị. Nếu chúng dùng chước như tằm ăn lá dâu, không cần mau thắng, không cướp bóc của dân, thì phải lựa lương Tướng, như đánh cờ vậy, cốt Binh và Tướng phải như cha con. Thời bình phải khoan thư sức dân, vun bồi đất nước, là phương sách sâu gốc bền rễ, đấy là thượng sách để giữ nước”. Vương căn dặn trước khi mất: “Thi hài hỏa táng chôn trong vườn An Lạc, gần cánh rừng An Sinh, không xây lăng mộ, lấp đất bằng phẳng, rồi trồng cây như cũ”. Vương mất ngày 20-8 năm Canh tý (5-9-1300), ai ai cũng tiếc thương. Triều đình cho lập đền thờ ở Kiếp Bạc, huyện Chí Linh, Hải Dương. Dân chúng tôn kính gọi: Hưng Đạo Vương, Hưng Đạo Đại Vương, Đức Thánh Trần, đây là điều đặc biệt trong lịch sử. Ngày lễ chính thức tổ chức vào ngày ông mất là ngày 20 tháng 8 ÂL.

Vương là danh nhân quân sự thế giới; vào năm 1984 tại London (Anh quốc) trong cuộc họp bình chọn 10 người tài xuất sắc (top ten) bầu chọn 10 nhà quân sự lỗi lạc và 10 nhà bác học giỏi nhất thế giới, Hoàng gia Anh làm chủ trì. Hưng Đạo Vương được chọn là một trong 10 vị Đại Nguyên soái quân sự lỗi lạc nhất thế giới.

*- Thiết nghĩ: Quân Mông Cổ, đầu thế kỷ thứ XIII, Hồi quốc là đế quốc gồm Ba Tư, Tiểu Á Tế Á, bề ngang kéo dài từ Ấn Độ đến Bagdad; quân Mông Cổ đánh phá 40 vạn binh của Mohamed tan tành và kinh đô cũng thành tro bụi. Tháng 12-1237 tới tháng 5-1238, Mông Cổ chiếm 4/5 nước Nga. Các quốc gia Tây Âu lo sợ. Giáo hoàng Innocent IV và vua Louis nước Pháp cử người cầu hòa với Mông Cổ. Tại Á Đông, vào năm 1226, Tây Hạ đầu hàng và bị sáp nhập vào đế quốc Mông Cổ. Nhưng tại Việt Nam, vào năm 1285, Trần Hưng Đạo đã thống lãnh 20 vạn quân Đại Việt đánh tan tác 50 vạn quân Nguyên xâm lược nước ta.


II. QUAN CÔNG -  QUAN VÂN TRƯỜNG


So sánh, Hưng Đạo Vương và ông Quan Công (Quan Vân Trường) của Trung Hoa. Hưng Đạo Vương không có sai lầm, mà Quan Công có nhiều lầm lỗi, như:

1- Thiếu lập trường, thả giặc nơi Hoa Dung: Sau khi Tào Tháo thua trận Xích Bích, tơi tả chạy trốn, gặp Quan Công phục binh. Trong Tam Quốc Chí, tác giả La Quán Trung, dịch giả Phan Kế Bính, viết: “Vân Trường xưa nay vẫn là người trọng nghĩa, nhớ đến ân tình Tào Tháo khi xưa đãi mình rất hậu và việc qua năm ải, chém sáu tướng, không khỏi động lòng...” Viết tiếp: “Quan Công quay ngựa lại, bảo quân sĩ rằng: Bốn mặt dãn cả ra, Tháo thấy vậy cùng các tướng sĩ kéo ồ cả đi”. Quan Công tự ý thả giặc, nói sao với Lưu Bị vừa là chúa công vừa là anh em kết nghĩa, nói sao với quân dân Hán hay quân dân Tây Thục?!

2- Nói năng lỗ mãng, tự cao: Gia Cát Cẩn (anh ruột Khổng Minh) vâng lệnh chúa Đông Ngô, đến kết thân với Kinh Châu, Cẩn thưa: “Tôi đến đây, có ý kết hiếu hai nhà, chúa công tôi (Ngô hầu) có con trai thông minh, nghe tướng quân có cô con gái, đến cầu hôn, để hai nhà kết hiếu với nhau, hiệp lực lại đánh Tào đó là việc vui, xin tướng quân xét cho”. Con của chúa Đông Ngô, muốn cầu hôn với con của một tướng quân; mà Quan Công, trả lời lỗ mãng: “Con gái ta ví như loài hổ, lại thèm gả cho loài chó à!”. Vừa vụng về vừa lỗ mãng, Ngô hầu nghe thuật lại, nổi giận đùng đùng, cử binh đánh Kinh Châu. Do đó Quan Công mới bị mất Kinh Châu và bị quân Ngô giết chết, từ đó Lưu Bị bắt đầu bị thất bại và đưa đến mất nước.

3- Chết rồi còn mê: Sau khi Quan Công, bị Đông Ngô bắt và giết. Nhà sư Phổ Tĩnh, đang ngồi trong am tụng kinh, bỗng nghe tiếng gọi to trên không: “Đem trả đầu ta đây!” Phổ Tĩnh trông lên thấy Quan Công, nhà sư hỏi: “Vân Trường ở đâu?”. Linh hồn Quan Công, xuống trước am đứng chấp tay. Phổ Tĩnh nói: “Nhân trước quả sau, nay tướng quân bị Lã Mông làm hại, kêu rằng: Đem trả đầu ta đây!. Thế thì đầu Nhan Lương, Văn Sú và đầu 6 tướng ở 5 ải, và bao nhiêu đầu nữa thì đòi vào đâu?” Quan Công tỉnh ra, lạy tạ rồi biến mất.

Sự thật Quan Công được thờ là có lòng trung tín. Nhà Thanh cai trị nước Tàu, nhiều người muốn phù Minh diệt Thanh, nhà Thanh phải tương kế tựu kế, thổi phồng những chuyện huyền hoặc của Quan Công, để biến từ những cuộc họp nơi Quan Công miếu vì chính trị, thành hội họp để cúng kính vì mê tín.

Ông Quan Công được dân chúng Tàu và VN, thờ phụng rất long trọng. Suy gẫm Đức Thánh Trần đều hơn hẳn Quan Công về tài và đức. Người Tàu thờ ông Quan Công là quyền của họ. Nhưng dân VN phải thờ Đức Hưng Đạo mới đúng?! Giả sử Đức Thánh Trần và ông Quan Công đều hiển thánh, thì ai sẽ thương và lo cho dân Việt Nam hơn???!


http://dongyyen.com.vn/san-pham/tho-tuong-tran-hung-dao-hay-quan-cong.html


Tags: ,
Viết nhận xét

Comment văn minh và lịch sự không spam
Câu hỏi chi tiết rõ ràng có demo kèm lời giải thích. Thanks

Tên gọi [Đăng ký]
Mật khẩu - Khách không cần mật khẩu
Địa chỉ web
Email
Mở HTML Mở UBB Mở hình vui Ẩn giấu Hãy nhớ
               
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
Powered by Bo-Blog 2.1.1 ReleaseCode detection by Bug.Center.Team