Công Đồng Vaticanô II Và Vấn Đề Giáo Dục

[2017/10/09 | Giáo dục » Giáo Dục - Xã Hội | admin | Nhận xét(0) | Đọc(101) ]
Công Đồng Vaticanô II Và Vấn Đề Giáo Dục

Ngày  18.09.2017

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

“Tất cả mọi người, bất luận màu da, điều kiện và tuổi tác nào đi nữa, xét vì phẩm giá nhân vị của họ, cho nên có quyền lợi bất khả nhượng được hưởng một nền giáo dục đáp ứng với cứu cánh riêng của mình.” ( Gravissimum educationis - Vaticano II)




Thoạt tiên xem ra đối với công đồng Vaticanô II đề tài “giáo dục” không quan trọng lắm. Trong số những chủ đề then chốt của công đồng, người ta thường vạch ra 6 điểm sau: vị trí quan trọng của Lời Chúa, đối thọai với các tôn giáo, xích lại với các anh em ly khai, thiện cảm đối với thế giới cận đại, nêu cao vai trò của các giáo dân, và sau cùng là sự hiệp thông giữa các giáo hội địa phương và tính tập đoàn của các giám mục. Đề tài giáo dục không có trong danh sách ấy.

Mỗi chủ đề vừa kể trên thường được lặp lại trong một hoặc nhiều văn kiện căn bản của công đồng. Chẳng hạn như Lời Chúa được nói đến trong mỗi số của hiến chế tín lý Dei Verbum; mối thiện cảm với thế giới là ý tưởng dệt nên hiến chế mục vụ Gaudium et spes. Ngược lại, chúng ta chỉ thấy hai bản văn ngắn ngủi đề cập đến giáo dục: Tuyên ngôn Gravissimum educationis momentum, về giáo dục Kitô giáo nói chung, và Sắc lệnh về việc đào tạo linh mục Optatam totius Ecclesiae renovationem, cả hai đều được đức thánh cha Phaolô VI ban hành ngày 28 tháng 10 năm 1965. Cần nói ngay là không ai coi đó hai văn kiện quan trọng hàng đầu của công đồng. Phải chăng điều này có nghĩa là các nghị phụ quan niệm việc giáo dục như là chuyện thứ yếu?

Thế nhưng những năm làm việc tại Bộ Giáo dục Công giáo đã cho tôi xác tín rằng mối quan tâm với giáo dục hiện diện trong mỗi văn kiện quan trọng, và nhìn cách tổng quát thì Vaticanô II có thể đáng mang danh là “công đồng về giáo dục”. Vì thế, bản văn ngắn ngủi Gravissimum educationis, dù được soạn thảo vội vàng và mang nhiều bất cập, nhưng đã dẫn chúng ta đến điều mà đức thánh cha Bênêđictô XVI gọi ra “sự khẩn trương của giáo dục”. Luôn tiện cũng nên ghi nhận là sự cần thiết phải xét lại toàn bộ hệ thống giáo dục, một ý tưởng thường được nhắc đến trong các Huấn quyền cận đại, bây giờ cũng được các nhà chính trị lưu tâm. Chỉ cần đưa ra một thí dụ: chính phủ đảng Xã hội mới lên cầm quyền tại Pháp đã đặt việc “tái lập nền giáo dục” liền sau vấn đề khủng hoảng kinh tế.

Trong bài này, tôi sẽ nói về năm điểm:

1 .- Một truyền thống lâu đời
2 .- Giáo dục con người
3 .- Các cộng đồng giáo dục
4 .- Những phát triển sau công đồng
5 .- Giáo dục cao đẳng


I.- Một truyền thống lâu đời

Tuyên ngôn Gravissimum educationis không phải là một thiên thể lẻ loi trên bẩu trời của Giáo hội. Ngay từ lâu rồi, có lẽ ngày từ lúc khai nguyên, Giáo hội đã quan tâm đến việc đào tạo giới trẻ. Giáo hội đã ủy thác sứ mệnh này cho những tín hữu ưu tú nhất; một số đáng kể của những vị ấy đã được đặt lên bàn thờ. Chỉ cần kể ra vài tên tuổi quen biết: Jean Eudes và Gioan Bosco, Angela Merici và Petrus Canisius, hoặc Jean Baptiste de La Salle mà bản thân tôi mắc nợ rất nhiều đối với các môn đệ của ngài … Sau các thánh sáng lập dòng, các ngài là đội ngũ đáng khâm phục nhất trong Giáo hội. Làm như vậy, Giáo hội không chỉ đáp ứng một nhu cầu sinh tồn, Giáo hội không chỉ lo lắng cho tương lai của mình hoặc của nhân loại, tuy dù vào nhiều cơ hội, tựa như Đại Hội giới trẻ quốc tế, Giáo hội tha thiết kêu gọi các bạn trẻ hãy can đảm đương đầu với tương lai.

Không phải thế, Giáo hội làm chứng cho một chân lý quan yếu nhưng thường bị lãng quên đó là: giới trẻ luôn luôn là những vị thầy của chúng ta. Trong một gia đình, những thành phần cao niên phải thích nghi với những thành phần trẻ tuổi, chứ không phải ngược lại, mặc dầu bề ngoài xem ra trái ngược. Giới trẻ là thầy của chúng ta bởi vì họ trục xuất chúng ta ra khỏi chính chúng ta; họ giật sập những căn nhà mà chúng ta đã chất chứa những xác quyết của chúng ta, và kể cả sự chán chường của chúng ta. Nói tắt, giới trẻ bắt buộc chúng ta phải tiến tới và thay đổi không ngừng: cách thức mà chúng ta sẽ sống tuổi già hầu như luôn luôn tùy thuộc vào thái độ quan tâm mà suốt đời chúng ta đã dành cho các bạn trẻ. Về phương diện này, Giáo hội thật là Mater et Magistra (Mẹ và Thầy).

Thật vậy, Tuyên ngôn Gravissimum educationis đã trưng dẫn như là nguồn mạch gần, các văn kiện Huấn quyền đậm nét giáo dục: Pacem in terris (1963), Mater et Magistra (1961), các sứ điệp truyền thanh và các diễn từ của đức Piô XII dành cho giới trẻ và ngay cả thông điệp Divini Illius Magistri (1929) của đức Piô XI, là một nhà sư phạm bẩm sinh.

Một cách tương tự như vậy, chúng ta có thể nói được rằng Tuyên ngôn đã thu tích những tư tưởng cơ bản của công đồng; điều này đã cho phép tôi khẳng định rằng mặc dù chỉ có ít văn kiện bàn minh thị về vấn đề giáo dục, nhưng mối quan tâm đến giáo dục trải dài suốt các bản văn công đồng. Những bản văn đáng kể nhất là Gaudium et spes (Hiến chế Vui mừng và Hy vọng), Sacrosanctum Concilium (Hiến chế về phụng vụ), Christus Dominus (Sắc lệnh về nhiệm vụ mục tử của các giám mục), và Sắc lệnh Inter mirifica (về truyền thông xã hội).

Tôi xin nói đôi lời về nguồn gốc văn kiện. Trong giai đoạn chuẩn bị công đồng, ba lược đồ đã được soạn thảo: thứ nhất về các trường công giáo, thứ hai về các đại học công giáo, thứ ba về các môn học thánh khoa[2]. Ủy ban của công đồng đã mở rộng các nhãn giới, không chỉ bàn về các trường học công giáo mà thôi nhưng là về giáo dục công giáo. Dự thảo của tuyên ngôn được đệ trình cho các nghị phụ ngày 19 tháng 10 năm 1964. Người ta yêu cầu bổ túc thêm vài chỗ còn yếu. Lược đồ cuối cùng về giáo dục công giáo được chấp thuận ngày 28 tháng 10 năm 1965, với 2325 phiếu thuận và 35 phiếu chống, và được ban hành cùng ngày hôm đó.


II.- Giáo dục con người

Bây giờ nếu đi vào nội dung, chúng ta thấy văn kiện chú ý đến phẩm giá. Trong nhập đề, Tuyên ngôn định nghĩa mục tiêu của mình là “trình bày vài nguyên tắc căn bản về giáo dục Kitô giáo, nhất là trong các trường học”. Những nguyên tắc ấy như thế nào?

1°) Trước hết, có vài nguyên tắc tổng quát, có giá trị cho tất cả mọi người.

Đó là hai nguyên tắc sau đây.

a- Nguyên tắc thứ nhất được gọi là quyền được giáo dục. “Tất cả mọi người, bất luận màu da, điều kiện và tuổi tác nào đi nữa, xét vì phẩm giá nhân vị của họ, cho nên có quyền lợi bất khả nhượng được hưởng một nền giáo dục đáp ứng với cứu cánh riêng của mình.” (§1). Chúng ta gặp thấy hai từ ngữ sẽ được phát triển trong những thập niên kế tiếp dưới khía cạnh triết học và kể cả chính trị: quyền lợi và phẩm giá của con người. Chúng ta dám nói là chúng gói ghém tất cả nền luân lý cận đại. Chúng ta cũng nên ghi nhận rằng chúng mang theo một vài điểm hàm hồ, nhất là vào thời đại chúng ta. Càng ngày người ta càng giải thích quyền lợi theo bối cảnh cá nhân chủ nghĩa, một đặc trưng của thời đại chúng ta: ước muốn của một cá nhân hoặc biểu lộ của ý chí đều được coi như là quyền lợi đòi hỏi xã hội phải đáp ứng. Chúng ta có thể lấy một thí dụ ở ngành luân lý sinh học thì rõ: ước muốn có con cái đặt ra cho xã hội nghĩa vụ phải huy động tất cả mọi phương tiện y khoa để phục vụ ước muốn đó. Về phẩm giá con người, đang khi Kitô giáo nhìn nhận nó bắt nguồn từ chỗ được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, thì các xã hội tục hóa ngày nay coi nó như là sự diễn tả một sự đồng thuận xã hội, sự đồng thuận này thay đổi tùy theo thời đại và những luồng tư tưởng hiện gây ảnh hưởng.

b- Nguyên tắc thứ hai được phát biểu ở đoạn hai: “Tuy nhiên sự giáo dục chân chính nhằm đào tạo con người hướng đến mục đích tối hậu và đến điều thiện của những xã hội khác nhau mà con người làm phần tử và một mai khi trưởng thành họ sẽ đảm nhận trách nhiệm”. Cần nhìn nhận rằng việc áp dụng nguyên tắc thứ hai này sẽ thay đổi rất nhiều tùy theo địa thế mà chúng ta quan sát, hoặc là trong một viễn ảnh Kitô giáo hoặc là trong một xã hội tục hóa.

2°) Áp dụng vào Kitô giáo.

– Gravissimum educationis quan niệm giáo dục theo cũng một tinh thần đã ghi dấu trên toàn thể công đồng, đó là tinh thần cởi mở đối với thế giới cận đại. Giáo hội biết rằng có nhiều sự khác biệt lớn lao giữa các quốc gia, các dân tộc và văn hóa, tuy vậy Giáo hội chủ trương rằng trong một bối cảnh đa phương như vậy vẫn có thể đạt được những giá trị giáo dục chung. Chúng ta thấy rằng Tuyên ngôn được nuôi dưỡng bởi cùng một tinh thần giống như hiến chế Gaudium et spes : “Khi công bố ơn gọi rất cao quý của con người và mầm giống thần linh mà con người mang trong mình, Công đồng cống hiến cho nhân loại sự hợp tác chân thành của Giáo hội vào việc đạt tới tình huynh đệ đại đồng đáp ứng lại ơn gọi ấy” (3§2). Nói cho cùng, mục tiêu của công đồng chẳng phải là đặt sự giáo dục trên nền tảng của một chủ nghĩa nhân bản mới[3], trong đó tất cả mọi người thiện chí đều được mời gọi cộng tác vì một thiện ích chung hay sao?

Chúng ta phải nhận rằng, 50 năm sau, bối cảnh xã hội đã thay đổi hoàn toàn. Trong một xã hội mà những quyết định chính trị đã loại trừ tư tưởng về sự siêu việt tôn giáo hay triết học, dù chỉ là giả thuyết, thì thử hỏi mục tiêu cao cả nhất của con người sẽ ra thế nào? Khi mà các tôn giáo càng ngày càng được coi như là những nhân tố gây chia rẽ, bạo lực, hoặc mê muội, và do đó nên đẩy chúng vào các lãnh vực lương tâm cá nhân chứ không được phát biểu công khai, thì liệu còn có thể nói đến sự “hợp tác chân thành của Giáo hội vào việc đạt tới tình huynh đệ đại đồng” nữa không?

– Tuyên ngôn Gravissimum educationis chủ trương một nền giáo dục con người toàn diện[4]. Đây là một khía cạnh triết lý then chốt của văn kiện: “Cần phải giúp đỡ các thanh thiếu niên, dựa theo những tiến bộ của khoa tâm lý, giáo dục, sư phạm, để họ được phát triển hài hòa các điều kiện thể lý, luân lý và trí dục, ngõ hầu họ thủ đắc cách tiệm tiến một ý nghĩa hoàn hảo hơn về trách nhiệm trong việc rèn luyện cuộc đời một cách có thứ tự và chủ động, cũng như trong việc tìm kiếm tự do đích thực” (§1). Cách đó không xa, bản văn nhấn mạnh rằng việc nhận biết và yêu mến Thiên Chúa là “một quyền lợi thánh thiêng” của nhân vị, và do đó chính quyền được mời gọi hãy canh phòng ngõ hầu quyền lợi này được tôn trọng khắp nơi. Xã hội cũng có lợi trong khía cạnh này: giáo dục Kitô giáo hệ tại trở về với những giá trị tự nhiên và kết hợp chúng trong viễn ảnh của con người được Đức Kitô cứu chuộc (§2). Vì thế giáo dục Kitô giáo góp phần vào việc xây dựng thiện ích của toàn thể xã hội.

Do đó giáo dục là một hoạt động rất nhân bản: nó không chỉ nhắm truyền thụ gia sản văn hóa, tuy rằng điều này rất thiết yếu cho sự tiến bộ xã hội (§5); nhưng nó còn nhằm khơi dậy trong mỗi người những tiềm năng của mình, khả năng nhận biết mình để lãnh trách nhiệm về chính mình, ngõ hầu kiến tạo bản thân cách hài hòa hơn, bất chấp những khiếm khuyết của tính tình và những vết thương của cuộc sống, ngõ hầu trở nên một chủ thể có tự do, nhận trách nhiệm về các hành động và tương lai của mình. Sau cùng, giáo dục còn muốn bảo đảm làm sao để các tiềm năng trở nên các đức hạnh[5].

Khi nhắc lại ý nghĩ sâu xa của mọi nền giáo dục, Giáo hội chống lại tất cả mọi khuynh hướng muốn làm hạ giá nhân cách: chính sách kỹ thuật muốn biến trường học thành thời kỳ thực tập kỹ thuật; chính sách thương mại muốn biến đổi trường học thành nơi chuẩn bị trực tiếp cho các định luật thị trường, chính sách độc tài được biểu lộ nơi chủ nghĩa duy vật, ý thức hệ và chủ nghĩa bảo căn tôn giáo. Điều này đã khiến cho Giáo hội gặp nhiều đối thủ, họ muốn giảm bớt ảnh hưởng của Giáo hội trong xã hội, thậm chí muốn bịt miệng Giáo hội. Năm mươi năm sau công đồng Vaticanô II, chúng ta phải nhìn nhận rằng trường học đã trở thành không những là nơi chống lại sự hòa nhập xã hội mà còn là nơi tranh chấp phản lại phẩm giá con người.


III.- Các cộng đồng giáo dục


1°) Gia đình

“Cần phải nhìn nhận cho cha mẹ… như là những nhà giáo dục tiên khởi và chính yếu” của con cái mình (§3). Chính tại gia đình mà con cái học biết khám phá Thiên Chúa;; “nhờ gia đình mà các con cái được dẫn dắt vào cộng đồng loài người”. Đối lại, Nhà Nước cần phải hỗ trợ trọng trách của gia đình và bảo đảm cho những quyền lợi tiên khởi của cha mẹ được tôn trọng khắp nơi, dựa theo nguyên tắc hỗ trợ[6].

Lời tuyên bố này đã có từ lâu đời. Giáo hội luôn chống lại độc quyền của Nhà Nước trong lãnh vực giáo dục (§6), trước đây dưới thời chủ nghĩa phát-xít, quốc xã, mác-xít; ngày nay khi chủ nghĩa tự do muốn biến trường học thành một chi nhánh của thị trường.

Tuyên ngôn giả thiết rằng các cha mẹ có ý muốn thi hành việc đào tạo tiên khởi. Nhưng nếu cha mẹ khước từ ý muốn đó thì sao? Ngày nay cha mẹ muốn tỏ ra là những người dễ tính và hết sức chiều chuộng con cái. Trong các cuộc viếng thăm khi còn làm giám mục Angers, tôi được các giáo viên các trường tiểu học cho biết rằng các trẻ em càng ngày càng tỏ ra hung hăng. Tại sao vậy? Bởi vì các cha mẹ đã quyết định rằng họ sẽ không làm trái ngược lại các em. Vì vậy trường học là nơi mà lần đầu tiên các em có cơ hội để đương đầu với tiếng “không được”, là một trụ cột của tất cả mọi nền giáo dục. Đòi hỏi trường học phải bổ túc cho những thiếu sót trong gia đình có phải là chuyện thường tình hay không? Các nhà giáo dục không nghĩ như vậy, và Gravissimum educationis cũng thế. “Vai trò giáo dục của gia đình thiết yếu đến nỗi, nếu thiếu, thì khó lòng bù đắp nổi” (§3).

2°) Các giáo viên

Giáo dục không phải là công tác của một định chế, nhưng là của một cộng đồng giáo dục phục vụ con người. Chắc hẳn đây là một trong những tuyên bố quan trọng nhất của Tuyên ngôn. Trường học đúng nghĩa tiên vàn không phải là một định chế, nhưng là một “trung tâm sinh hoạt và tiến triển nhờ sự đóng góp của gia đình, các giáo viên, các hiệp hội cổ động đời sống văn hóa, công dân và tôn giáo, xã hội dân sự và toàn thể cộng đồng nhân loại” (§5). Trường học không phải là một môi trường đóng kín nơi đó duy các giáo viên nắm toàn quyền, mặc dù vẫn biết rằng họ đảm nhận một “thiên chức cao quý”. Điều này giả thiết rằng các gia đình chấp nhận một vai trò chủ động trong việc giáo dục các thiếu nhi, thế nhưng họ lại thường thoái thác bổn phận như chúng ta vừa nói trên đây. Điều này cũng giả thiết rằng các giáo viên hãy khước từ vai trò độc hữu, ra như chỉ có họ mới biết thế nào là giáo dục đích đáng.

3°) Giáo hội

Giáo hội cũng là một cộng đồng giáo dục: “Giáo hội, như người mẹ, buộc phải cung cấp cho con cái mình một nền giáo dục, sao cho toàn thể đời sống của họ được thấm nhập tinh thần Chúa Kitô” (§3). Giáo hội thực hiện sự giáo dục ấy ở chỗ nào? Văn kiện nhắc đến hai chỗ: việc dạy giáo lý và trường học công giáo.

a- “Việc dạy giáo lý, nhằm soi sáng và kiện cường đức tin”, (§4) phải được cung cấp cho tất cả các thiếu nhi công giáo, ngay cả tại những nơi nào không có trường học công giáo. Điều này được thực hiện nhờ tác vụ của các linh mục và các giáo dân tại các “phòng tuyên úy” (từ ngữ này không được nói đến trong Tuyên ngôn) cần thiết lập tại các trường công lập (§7). Trước đây, sự hiện diện của các phòng tuyên úy công giáo được pháp luật công nhận[7] và không có vấn đề gì, tuy rằng các vị tuyên úy phải tranh đấu để sự hiện diện của họ được nhìn nhận. Ngày nay, một sự khó khăn mới được đặt lên do sự hiện diện càng ngày càng đông của các tín hữu Hồi giáo trong xã hội Tây phương. Các cha mẹ ước mong cho con cái mình được lãnh nhận việc đào tạo tôn giáo, vì thế những yêu cầu thiết lập những phòng tuyên úy Hồi giáo gia tăng. Vì thế để ngăn chặn phong trào này, các ban điều hành học đường có khuynh hướng muốn loại trừ tất cả mọi hình dạng tuyên úy tại các trường học, kể cả những phòng tuyên úy đã được pháp luật công nhận.

Ngay cả khi ở ngoài bối cảnh của việc đào tạo giáo lý, Gravissimum educationis cũng nêu bật vai trò chứng tá đời sống của các giáo viên và của các nhà hữu trách các trường học – và theo tôi đây là một điều chính xác – cũng như chứng tá tông đồ của các bạn hữu (§7). Đây là một đề tài rất thích thời: mỗi người được rửa tội là một thừa sai, dù mới chỉ là một thiếu nhi. Em là thừa sai trong gia đình: nhiều khi những câu hỏi tôn giáo do các em đặt ra đã chất vấn các bậc phụ huynh. Em là thừa sai đối với các bạn hữu: các bạn trẻ tìm đến các bạn trẻ.

b- Trường công giáo

Gravissimum educationis dành đoạn dài nhất (§8) của văn kiện cho các trường công giáo. Có ba điểm đáng nêu bật:

+ Khi mạnh mẽ nhắc đến quyền lợi được thiết lập và điều khiển các trường công giáo, Giáo hội hành động nhân danh tự do lương tâm. Vào lúc mà các trường học công lập mang những dấu vết của các ý thức hệ khác nhau, lắm khi trái ngược với đức tin Kitô giáo, các cha mẹ cần phải có khả năng chọn lựa cho con cái mình những trường nào mà đức tin được biểu lộ và truyền đạt. Đối với các cha mẹ, đây là một quyền lợi tiên khởi, một quyền tự nhiên.

+ Trường công giáo là một cơ hội thuận tiện cho Giáo hội. Khi tạo ra “những cộng đồng học hỏi được hun đúc bởi tinh thần tự do và yêu thương theo Phúc âm”, Giáo hội thực sự mang lại cho xã hội một sự phục vụ công ích và cần phải được công nhân (đặc biệt qua việc được trợ cấp). Điều này cần được khai triển thêm, và phản ứng lại một ý tưởng được quảng bá giữa hàng giáo sĩ vào những thập niên 60-70, theo đó các trường công giáo không mang tầm quan trọng về mục vụ. Ngày nay chúng ta thấy rõ rằng trong các xã hội tục hóa, những trường này đứng hàng đầu trong phạm vi truyền giáo: đối với nhiều bạn trẻ, đây là cơ hội đầu tiên, có khi là duy nhất, để họ gặp gỡ Giáo hội, điều mà các giáo xứ thường không làm được.

+ “Tài ba” của một trường công giáo không dựa trên các giáo trình cũng chẳng dựa trên ý định của các vị sáng lập, nhưng tiên vàn là dựa trên thái độ cư xử của các giáo viên. Công đồng tuyên bố: “Nhiệm vụ giảng dạy của họ là một việc tông đồ đúng nghĩa, được thích nghi hoàn toàn và vẫn còn cần thiết cho thời đại chúng ta; ngoài ra cũng là một việc phục vụ xã hội”. Từ đó sự quan trọng của việc đào tạo các giáo viên được đặt ra. 50 năm sau công đồng, những lời ấy vẫn còn giá trị. Không ít lần các giáo hội địa phương gặp khó khăn trong việc bảo đảm công cuộc đào tạo ấy. Các đại học công giáo có thể góp phần hữu ích cho công cuộc này.


IV.- Những tiến triển tiếp theo bản văn công đồng

Được yêu cầu trình bày về tính cách thích thời của Tuyên ngôn Gravissimum educationis, tôi nghĩ rằng cách tốt nhất là duyệt qua những văn kiện do Bộ Giáo dục Công giáo từ sau công đồng. Trước đây, cơ quan này mang tên là Bộ các chủng viện và đại học. Tông hiến Regimini Ecclesiae do đức Phaolô Vi ban hành ngày 15 tháng 8 năm 1967, đã nới rộng thẩm quyền sang các trường học, và vì vậy được đổi danh xưng thành Bộ Giáo dục Công giáo. Bộ đã phát hành một số văn kiện định nghĩa căn tính và sứ mạng của trường công giáo:

– Trường công giáo (17 tháng 3 năm 1977). Những cuộc thay đổi xã hội đã đòi hỏi trường công giáo phải xác định căn tính của mình. Đức Kitô tượng trưng cho nền tảng của dự án giáo dục. Nhờ việc chiêm ngắm bản thân của Người và nhờ việc học hỏi sâu xa Lời của Người mà phát sinh những nguyên tắc sư phạm tạo nên nét độc đáo của trường học công giáo. Những nguyên tắc này cổ vũ sự đào tạo toàn diện con người.

– Người giáo dân công giáo, chứng nhân đức tin tại trường học (15 tháng 10 năm 1982). Văn kiện này phác họa những nét chính của nhà giáo Kitô hữu tại trường học công giáo cũng như tại trường công lập. Giáo viên không giới hạn vào việc truyền thụ kiến thức, nhưng còn muốn gợi lên nơi các học sinh lòng ham mộ chân lý. Vì thế đây là một trong những ơn gọi đẹp nhất.

– Trong việc đào tạo toàn diện con người, được Giáo hội nhấn mạnh, thì việc giáo dục tình cảm, và cụ thể hơn nữa, việc giáo dục phái tính giữ một chỗ vừa dứt khoát vừa tranh cãi. Thật vậy, từ khoảng ba mươi năm nay, các cơ quan chính quyền muốn đích thân đảm nhận việc giáo dục này, qua việc phát hành nhiều sách báo và gửi đến các trường học những người giả thiết là có khả năng. Thử hỏi: cha mẹ có quyền phản đối việc giáo dục phái tính tại các trường học không? Giáo hội nói gì về đề tài khá tế nhị này? Vì thế Bộ giáo dục công giáo phát hành một văn kiện mang tựa đề: Những đường hướng giáo dục về tình yêu con người (1 tháng 11 năm 1983).

– Từ khá lâu Bộ đã nghiên cứu vấn đề Chiều kích tôn giáo của việc giáo dục tại trường công giáo (7 tháng 4 năm 1988). Văn kiện này đương đầu hai vấn đề: việc loan báo đức tin vào Chúa Kitô tại trường học, và việc huấn luyện các giáo viên. Một đàng cần phải tôn trọng tự do lương tâm của mỗi học sinh: chỉ có thể đề nghị chứ không thể áp đặt đức tin. Đàng khác, nếu một trường công giáo không thể trình bày đức tin vào Chúa Kitô cho các học sinh thì còn gì là công giáo nữa? Câu hỏi này được đặt lên khắp nơi, nhưng nhất là tại các quốc gia Hồi giáo, nơi mà các trường công giáo nổi tiếng nhờ những công tác giảng dạy nhưng lại bị ngăn cấm không được nói về Đức Kitô và thậm chí cũng bị cấm ngay cả việc giới thiệu văn hóa Kitô giáo. Ngoài ra, người ta hy vọng rằng các giáo viên Kitô giáo tham dự cách chủ động vào việc giảng dạy chiều kích tôn giáo, và điều này giả thiết rằng họ đã lãnh nhận sự đào tạo cân xứng. Thế nhưng các giáo viên được đào tạo ở đâu và như thế nào?

– Trường công giáo trước thềm thiên niên kỷ thứ ba (28 tháng 12 năm 1997). Văn kiện nêu bật trường học công giáo làm thành phần của Giáo hội, vào lúc mà ý thức giáo hội đang sút giảm đáng kể.

– Con số những tu sĩ hoạt động trong các trường học có khuynh hướng sụt giảm trên khắp thế giới, vì thế các trách nhiệm được chuyển sang các giáo dân. Hai văn kiện trong thập niên đầu thiên niên kỷ mới chú trọng vào việc xác định lãnh vực chuyên biệt và sự bổ xung giữa đôi bên: Các tu sĩ và sứ mạng tại các trường học. Những suy tư và định hướng (28 tháng 10 năm 2002), Kề vai giáo dục tại trường công giáo. Chia sẻ sứ mạng giữa các tu sĩ và giáo dân (8 tháng 9 năm 2007).


V.- Giáo dục cao đẳng


Tuyên ngôn Gravissimum educationis chủ yếu bàn về các trường học, và mãi cuối bản văn mới dành hai số 10 và 11 để nói đến các đại học, còn số cuối cùng (số 12) mời gọi tất cả các học hiệu công giáo, gồm cả các đại học, hãy duy trì những mối tương quan hợp tác.

Tuy nhiên tôi nghĩ rằng nên dừng lại đôi chút để suy nghĩ về giáo dục đại học vì hai lý do. Thứ nhất bởi vì đây là một lãnh vực đã phát triển đáng kể trong vòng 50 năm qua: tổng số các đại học công giáo lên gần tới 1.300 và những đơn xin thiết lập tiếp tục gia tăng. Hiện nay những vùng năng động nhất là châu Mỹ latinh, châu Phi và nước Ấn độ.

Lý do thứ hai không thể nói dài ở đây. Đối với Giáo hội, đại học công giáo là một phương thế đặc biệt để tham gia vào nền văn hóa của quốc gia, và ngoài ra còn trở thành một tác nhân chủ động chuyên nghiệp tại xứ sở. Quý vị thử tưởng tượng uy tín của Giáo hội sẽ như thế nào, nhất là tại các xã hội tục hóa không nhìn nhận cái gì khác bên trên chuyên môn nghề nghiệp, nếu các khoa học gia lỗi lạc nhất, những nhà kinh tế tài ba, những nhà kiến trúc nổi danh, đều xuất thân từ các đại học công giáo hoặc nếu các bác sĩ ưu tú nhất đều ủng hộ quan điểm Kitô giáo về tính dục. Theo các nghị phụ công đồng, các trường cao đẳng công giáo cần thể hiện “sự hiện diện công khai, bền bỉ và phổ quát của tư tưởng Kitô giáo trong nỗ lực cổ vũ văn hóa cao cấp, và làm sao cho các sinh viên theo học tại đây được đào tạo thành những người tài ba về học thuyết, được chuẩn bị để đảm đương những chức vụ quan trọng trong xã hội và những chứng nhân đức tin trong thế giới” [1].

Tôi thật hân hoan nhìn nhận rằng tại nhiều quốc gia châu Mỹ latinh, các đại học do Giáo hội điều khiển được coi là nổi tiếng hơn cả; tôi nghĩ cách riêng đến nước Chili và Colombia mà tôi vừa mới viếng thăm… Như đức thánh cha Gioan Phaolô II đã nói, đối với Giáo hội công giáo, thế giới giáo dục cao đẳng là một “cánh đồng đặc biệt của công cuộc loan báo Tin mừng và hiện diện trong lãnh vực văn hóa” [2]. Như quý vị đã biết, sinh hoạt đều đặn của các đại học vẫn là một đề tài mà đức Bênêđictô XVI đặc biệt quan tâm.

Tôi muốn nhắc đến sự phân biệt căn bản trong bộ giáo luật (điều 807-821), tuy ít người hiểu được, giữa hai loại đại học gắn liền với Giáo hội: một bên là các đại học và phân khoa Giáo hội (universitates et facultates ecclesiasticae), một bên là các đại học công giáo (universitates catholicae).

a- Loại thứ nhất nhằm cổ vũ việc nghiên cứu các môn “thuộc Giáo hội”, nghĩa là các môn học thánh (thần học, giáo luật, triết học, đó là ba khoa cổ điển; nhưng danh sách còn có thể kéo dài thêm, chẳng hạn: giáo sử, học thuyết xã hội của Giáo hội, truyền giáo, vv). Những học viện này do Tòa Thánh thiết lập, được điều hành bởi những quy luật của tông hiến Sapientia christiana ngày 15 tháng 4 năm 1979; cấp các văn bằng nhân danh và dưới uy tín của Tòa Thánh. Vào năm 2005, con số đã lên đến 258. Đại học mới nhất là San Dámaso, tại Madrid, được thiết lập vào tháng 7 năm 2011, chỉ vài tuần lễ sau Ngày Quốc tế bạn trẻ.

b- Loại thứ hai, các đại học công giáo, là những trung tâm cao đẳng gồm bởi nhiều phân khoa, viện hay trường, nơi dạy các môn học dân sự[8], nhưng đôi khi cũng có những môn “thuộc giáo hội”. Các đại học công giáo được điều hành bởi tông hiến Ex corde Ecclesiae ngày 15 tháng 8 năm 1990.

Trái ngược với sự giải thích lịch sử được lặp đi lặp lại dưới thời kỳ Ánh sáng (Illustration) và được thuyết mác-xít hồi sinh, các đại học thời Trung cổ không do các hiệp hội giáo dân thiết lập để chống lại sự đàn áp của hàng giáo sĩ hoặc một hạ tầng chống lại sự tha hóa mà quyền bính gây ra. Ngược lại, chính nhằm bảo đảm quyền tự do giảng dạy và nghiên cứu mà các đại học đầu tiên đã quay về với Rôma, để thoát ly khỏi cái ách của những định chế địa phương, địa phận và kể cả của chính quyền, là những định chế muốn huy động các sinh viên và giới trí thức để phục vụ quyền lợi của mình. Vì thế nguy cơ không phát xuất từ Rôma ở xa xôi, nhưng là từ các định chế gần gũi tại quê nhà. Chính vì thế mà hầu như vào lúc mở cửa một đại học, chúng ta gặp thấy một sắc chiếu của giáo hoàng cho phép thành lập hoặc ít là phê chuẩn. Có cũng là điều mà đức Gioan Phaolô II mong mỏi nơi tông hiến Ex corde Ecclesiae, với ba chữ Latinh rất có ý nghĩa (“được sinh ra từ trái tim của Giáo hội”) [3]. Tuy vẫn duy trì sự tự trị chính đáng do bản tính đòi hỏi, mỗi đại học công giáo được mời gọi hãy chu toàn một nhiệm vụ riêng biệt ngay từ giữa trái tim của đời sống Giáo hội.

Cái gì làm cho một trường cao đẳng trở thành “công giáo”? Đâu là những khác biệt giữa các đại học công giáo và các đại học khác?

Nhiều người thường trả lời rằng: đại học công giáo là một trung tâm học vấn mà đặc trưng là sự hiện diện của những người, được thúc đẩy bởi đức tin và trung thành với Huấn quyền, tìm cách đổi mới trật tự trần thế [4] trong môi trường cụ thể là giáo dục cao đẳng. Câu trả lời này đúng: quả vậy thật đáng mong ước rằng các giáo viên của một đại học công giáo là những tín hữu công giáo dấn thân; điều này lại càng đúng hơn nữa đối với những ai giữ một chức vụ có trách nhiệm, tựa như viện trưởng, khoa trưởng. Tuy nhiên, nguy cơ là các giáo viên, các nhân viên điều hành chỉ hành động với tư cách cá nhân: thiện chí, sự dấn thân và chứng tá mang tính cá nhân hơn là định chế. Thế nhưng, một đại học công giáo còn có gì hơn là một tập hợp các cá nhân. Chính là “xét như định chế” mà các đại học công giáo trình bày một “nền đạo đức chuyên biệt, một ý thức vẫn tồn tại kể cả khi nó bị phản bội bởi những cá nhân trong lòng định chế ấy” [5]. Hơn thế nữa, các học hiệu cao đẳng mang danh công giáo là những cách thức diễn tả sứ mạng Giáo hội ra thành cơ cấu; chúng tượng trưng cho những định chế được công khai nhìn nhận, những hoạt động khoa học căn bản, các lớp học và sự phục vụ “cần được gắn bó và hòa hợp với sứ mạng của Giáo hội là loan báo Tin mừng” [6]. Hiểu như vậy, các đại học công giáo chấp nhận những quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh từ mối tương quan hữu hình với Giáo hội địa phương và hoàn vũ.

Vì thế, như đức thánh cha Gioan Phaolô II quả quyết, đại học công giáo cần biểu lộ “tinh thần Kitô giáo không những về phía mỗi thành phần mà cả về phía cộng đồng đại học nữa” [7]. Nói cách khác, đại học công giáo cần bảo đảm, một cách định chế chứ không chỉ là cá nhân, một sự hiện diện của Kitô giáo trong thế giới của giáo dục cao đẳng. Tông hiến Ex corder Ecclesiae (§13) giải thích như sau: “mục tiêu của một đại học công giáo là bảo đảm dưới hình thức định chế một sự hiện diện của Kitô giáo trong thế giới đại học khi đối diện với các\vấn đề lớn lao của xã hội và văn hóa. Xét như là công giáo, nó phải có những đặc trưng cơ bản sau đây:

1. một tinh thần Kitô giáo không những về phía mỗi phần tử mà còn cả về phía cộng đồng đại học;

2. một sự suy tư liên tục, dưới ánh sáng đức tin công giáo, về kho tàng trí thức nhân loại ngày càng gia tăng, và cống hiến sự đóng góp của mình bằng những cuộc nghiên cứu riêng;

3. trung thành với sứ điệp Kitô giáo như đã được Giáo hội trình bày;

4. dấn thân phục vụ dân Chúa và gia đình nhân loại trên hành trình hướng đến mục tiêu siêu việt mang lại ý nghĩa cho cuộc đời.”

Những nguyên tắc tổng quát này mang theo một số hệ luận thực tiễn về phương diện định chế. Ơn gọi của một đại học công giáo gồm tóm vào ba điểm: tìm kiếm chân lý; truyền thông chân lý cách vô vị lợi cho “những bạn trẻ và tất cả những ai học biết cách lý luận nghiêm chỉnh để hành động đúng đắn và phục vụ xã hội tốt hơn” [8]; phục vụ xã hội và Giáo hội.

Tìm kiếm chân lý, theo tông hiến, gồm bốn khía cạnh:

Kết hợp sự hiểu biết với một tổng hợp cao cấp hơn, điều rất cần vào thời nay khi mà kiến thức có khuynh hướng đi vào chuyên ngành và bị phân mảnh;

Đối thoại giữa đức tin và lý trí, tuy vẫn tôn trọng những lãnh vực và phương pháp chuyên môn, tìm cách “gặp gỡ trong một chân lý duy nhất” [9];

Quan tâm đến luân lý, bởi vì kiến thức nhắm phục vụ con người;

Viễn ảnh thần học, bởi vì thần học “giữ một vai trò quan trọng đặc biệt trong việc tìm một tổng hợp về mọi kiến thức”: vì thế đại học cần phải có “ít là một ghế giảng dạy thần học” [10].

********

Bộ Giáo dục sẽ phát hành vào những tuần lễ – hoặc những tháng – sắp đến một văn kiện mới về đặc trưng của giáo dục công giáo trong những xã hội càng ngày càng được đánh dấu với tính đa nguyên về văn hóa và tôn giáo. Nếu quý vị hỏi tôi: đâu là câu hỏi thường được đặt ra cho giáo dục công giáo trên toàn thế giới, thì tôi xin trả lời ngày rằng: đó là câu hỏi về căn tính hoặc đặc trưng. Công giáo có nghĩa là gì? Làm thế nào định nghĩa một trường học hay đại học là công giáo?

Mỗi khi các sinh viên có thắc mắc về ý nghĩa của một từ ngữ, tôi khuyên họ hãy truy tầm nguyên ngữ. Chúng ta cũng hãy làm như vậy để kết thúc. Từ catholica (công giáo) có hai nguồn gốc:

– Từ catholica bắt nguồn bởi tiếng Hy-lạp katholicos có nghĩa là phổ quát. Một trường công giáo làm một trường mở ra chiều phổ quát. Phổ quát của cái gì? Trước hết là phổ quát xét về kiến thức. Một trường công giáo là một trường mở rộng đến kiến thức của nhân loại. Nó muốn tìm hiểu tất cả những gì liên quan đến con người. Vì thế ơn gọi của nó rất nhân bản. Tôi vui mừng vì điều này đã được công nhận trên toàn thế giới. Thật vậy, Giáo hội hãnh diện về phẩm chất của các trường học và đại học của mình.

Chiều kích này thứ nhất của tính phổ quát cũng hàm ngụ rằng một trường học (hoặc đại học) được mở ra cho nhiều người, cho hết mọi người nếu có thể được. Một trường công giáo không chỉ đón nhận các học sinh công giáo. Như vậy ơn gọi nhân bản vừa nói trên lại càng được củng cố thêm.

Ý nghĩa đầu tiên của từ “công giáo” tuy cần thiết nhưng chưa đủ. Nếu đặc trưng của một trường học chỉ nằm ở chỗ là mở cửa cho hết mọi người thì sẽ rơi vào nguy cơ trở thành một hội chợ. Vì thế cần phải thêm một ý nghĩa thứ hai nữa: “công giáo” quy chiếu về một tôn giáo đặc thù, một đạo. Vì thế một trường công giáo là nơi mà người ta có thể học biết Kitô giáo là gì, giáo lý và luân lý của đạo ấy, nói tóm lại, cách thức tư duy và sống theo Kitô giáo.

Ta có thể rút ra hai hệ luận cụ thể. Thứ nhất, một trường công giáo là nơi trình bày đức tin công giáo, qua đường lối huấn giáo. Chúng ta chỉ trình bày giáo lý chứ không áp đặt, bởi vì nhà trường chủ trương tôn trọng tự do lương tâm và sự lựa chọn của mỗi người. Đối với học sinh không công giáo hoặc không muốn tham dự lớp giáo lý, thì nhà trường cần phải dự liệu, cách bắt buộc chứ không nhiệm ý, một lớp đào tạo về văn hóa Kitô giáo do những giáo viên của trường giảng dạy chứ không do người ngoài. Tuyên ngôn Gravissimum educationis không nói đến điều đó, bởi vì vào thời của công đồng, ảnh hưởng của Kitô giáo còn mạnh mẽ. Bây giờ tình hình không như thế nữa. Tôi biết rằng môn học hỏi văn hóa Kitô giáo còn mới và đòi hỏi nhiều sáng tạo. Dựa vào kinh nghiệm bản thân tôi có thể nói rằng đây là một việc rất hứng thú. Và cũng là một thách đố. Căn tính Kitô giáo đòi hỏi điều ấy.

Jean-Louis Bruguès O.P

nguồn: http://www.catechesis.net

Chú thích:

[1] Công đồng Vaticanô II, Tuyên ngôn Gravissimum educationis, số 10.

[2] ĐGH Gioan Phaolô, Diễn từ dành cho Hội đồng Tòa thánh về văn hóa (15 tháng 1 năm 1988), số 5, Insegnamenti, 11/1 (1988), tr. 103.

[3] ĐGH Gioan Phaolô II, Tông hiến Ex corde Ecclesiae, 15 tháng 8 năm 1990, số 1.

[4] X. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Lumen gentuim, số 37.

[5] Francis George, «Catholic Higher Education and Ecclesial Communion », Origins, 28/35 (18-2-1999), p. 611 ; x. Donald Wuerl, «The Institutional Identity of a Catholic University », Origins, 29/15 (23-9-1999), p. 234.

[6] ĐGH Gioan Phaolô II, Tông hiến Ex corde Ecclesiae, số 49.

[7] Ex corde Ecclesiae, số 13.

[8] Ex corde Ecclesiae, số 2.

[9] Ibid., n. 17.

[10] Ibid., n. 19 ; cf. Code de Droit Canonique, can. 811.

[1] Đức cha Jean-Louis Bruguès O.P., giám mục Angers (2000-2007), tổng thư ký Bộ giáo dục công giáo (2007-2012), và hiện đang giữ chức vụ Quản thủ Văn khố và Thư viện của Tòa thánh. Tựa đề của bài thuyết trình theo nguyên bản tiếng Tây-ban-nha là “Giáo dục theo công đồng Vaticanô II” (La educacion segun el Vaticano II), đăng trên mạng internethttp://www.instituto-social-leonxiii.org/index.php?option=com_content&view=article&id=878:la-educacion-segun-el-concilio-vaticano-ii&catid=119:curso-2012

[2] Các “thánh khoa”, hoặc “những môn học thuộc Giáo hội” (studia ecclesiastica): thần học, giáo luật, triết học.

[3]“Chủ nghĩa nhân bản mới”: un nuevo humanismo. Cũng có thể dịch là “quan niệm mới về nhân sinh”.

[4]Nguyên bản: “giáo dục toàn diện con người” (educación integral de la persona humana).

[5]Một lối chơi chữ trong nguyên bản Tây ban nha: từ tiềm năng (virtualidad) đến nhân đức (virtud).

[6]Nguyên tắc hỗ trợ (hay bổ trợ): subsidiariedad. Cấp trên chỉ “hỗ trợ” cho cấp dưới, chứ không thay thế (trái với việc bao cấp).

[7]Tác giả nói đến tình hình trước đây ở các trường công lập bên Pháp, khi các linh mục được phép đến dạy giáo lý cho các học sinh công giáo tại “phòng tuyên úy” (aumônerie).

[8]Môn học “dân sự” (hoặc môn “đời”): disciplinas civiles or profanas, nghĩa là khác với các môn “đạo”, thuộc về “Giáo hội” đã nói trên đây


Mary Nguyễn
Source of http://lamhong.org

------------------------

Tuyên Ngôn về Giáo Dục Ki-tô Giáo (Gravissimum Educationis) Lời Giới Thiệu

Thánh Công Ðồng Chung Vaticanô II

Tuyên Ngôn về Giáo Dục Kitô Giáo
Gravissimum Educationis

Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia



Lời Giới Thiệu

Chú ý đọc bản Tuyên Ngôn về giáo dục, chúng ta sẽ cảm thấy những ấn tượng khá phức tạp buồn vui lẫn lộn, vừa sung sướng vừa thất vọng. Phân tích sơ qua ta cũng đủ thấy được những nguyên do rõ rệt gây ra những hậu quả trên.

Trước hết, bản Tuyên Ngôn có một chất liệu rất là phong phú, một luồng thanh khí sôi bỏng làm cho bản Tuyên Ngôn trở nên sống động, chứng tỏ rằng Cộng Ðồng đã ý thức đầy đủ tính chất quan trọng cũng như tầm mức diễn tiến của vấn đề. Nhất là người ta ngỡ ngàng trước mối thiện cảm chân thành và đáng phục của Giáo Hội đối với nỗ lực của những ai đang theo đuổi một lý tưởng trùng hợp với niềm ưu tư liên lỉ của mình là chu toàn sứ mệnh trần gian và vĩnh cửu của nhân loại.

Trong khi đó, cách bố cục lại thiếu cân xứng và vững chắc. Người ta mong thấy một kiểu trình bày khúc chiết hơn để độc giả có cảm tưởng đầy đủ và thoải mái như khi chiêm ngưỡng một lâu dài kiên cố với những chi tiết tỉ mỉ, mỹ thuật.

Lịch sử

Ấn tượng lưỡng diện trên thật dễ hiểu.

Ngày 17-11-1964 khi các Nghị Phụ thảo luận về lược đồ của bản Tuyên Ngôn này, đó chỉ là một bản văn ngắn gọn, không có giá trị tổng quát bao nhiêu. Một số Nghị Phụ muốn thu tóm thành một đoạn để đưa vào một sắc lệnh quan trọng khác; một số khác lại muốn khai triển tư tưởng của Giáo Hội về vấn đề này một cách rộng rãi hơn. Trước tình trạng tế nhị đó, đa số cố gắng đem sơ đồ ra biểu quyết để định hướng vấn đề, sợ rằng nếu bác bỏ lại gặp phải một lược đồ còn nghèo nàn hơn. Vì thế thà chấp nhận những cố gắng đáng kể về phương diện giáo dục do người đời đóng góp còn hơn là tông huấn Divini Illius Magistri quá tách biệt với các định chế nhân loại. Như vậy các ngài hy vọng có thể bổ túc thêm những gì cần thiết.

Ngày 20-11-1964, bản văn được thông qua với 1,457 phiếu thuận, 419 phiếu chống và 3 phiếu trắng trong số 1,879 Nghị Phụ hiện diện.

Tài liệu được hoàn lại cho Ủy ban đặc trách. Ủy ban lại chỉ định một tiểu ban gồm có cha Hoffer, thư ký ủy ban và nhiều vị thông thái khác như Robert Massi, Paul Dezza v.v...

Từ 23 đến 30 tháng 3 năm 1965, trong khi soạn thảo dự án, tiểu ban đã lưu ý tất cả những lời bình phẩm cũng như "gợi ý" của một số đông các Nghị Phụ gửi tới. Nhưng bản văn mới lại quá phong phú, xa hẳn bản cũ cả về lượng lẫn nội dung. Nhiều Nghị Phụ cho rằng làm như thế là không hợp pháp và cần duyệt xét lại cẩn thận.

Rất may là không xảy ra điều chi đáng tiếc cả và ngày 14-10-1965, văn kiện đã được chấp nhận với 1,912 phiếu thuận đối lại với 183 phiếu chống.

Sau cùng bản Tuyên Ngôn đã được công bố với 2,290 phiếu thuận, chỉ có 35 phiếu chống.

Phân tích

Giờ đây chúng ta hãy cùng nhau phân tích văn kiện trên:

1. Văn kiện này dựa trên nguyên tắc của luật tự nhiên: mọi người đều có quyền hưởng một nền giáo dục đầy đủ và xứng hợp với thiên chức làm người của mình, "mỗi ngày một tham gia vào đời sống xã hội nhất là về kinh tế và chính trị một cách tích cực hơn hầu có thể hưởng dụng di sản văn hóa thiêng liêng của nhân loại một cách dễ dàng hơn" hợp với chức vị của người con Thiên Chúa.

Quyền này đã được nhiều văn kiện chính thức của Liên Hiệp Quốc nhìn nhận, xác định và khai triển. Ðây là lần đầu tiên người ta dựa vào đó để bàn luận về các quyền hành của Giáo Hội trong lãnh vực giáo dục. Căn cứ trên nguyên tắc, người ta có thể tố cáo lập luận của Tông Huấn Divini Ilius Magistri là đã đặt nền tảng các hoạt động giáo dục của Giáo Hội trên thực tại thần linh thuộc sứ mệnh mình. Tuy nhiên một khi người ta chấp nhận ưu quyền tổ chức thiêng liêng của thế giới là lo lắng đến lợi ích toàn diện cho mọi phần tử, đồng thời cũng là những con người của xã hội dân sự, họ không thể chối bỏ quyền tối thượng của con người.

Một khi được hiểu biết và chấp nhận, quyền này sẽ đem lại những hậu quả thiết thực như: việc đào luyện những đức tính tự nhiên của một người công dân, phát triển những khả năng trí thức và óc phán đoán, khai tâm cho biết những giá trị luân lý, biết nhận thức và yêu mến Thiên Chúa, tiến tới ơn lãnh nhận đức tin, xây dựng xã hội trần thế và mở rộng nước trời. Tóm lại, không có gì thuộc sứ mệnh con người trong mọi thời đại mà lại ở ngoài phạm vi thực hành của quyền này.

Sau cùng, kể từ Thông Ðiệp Mater et Magistra và Pacem in Terris của Ðức Gioan XXIII cũng như Ecclesiam Suam của Ðức Phaolô VI, một âm điệu mới đã nhân tính hóa tiếng nói của Giáo Hội cho thích hợp với xã hội dân sự mà không còn ai phủ nhận nguồn gốc thần linh của nó.

2. Người ta hài lòng khi thấy Giáo Hội được bành trướng trên những hậu quả thuộc lãnh vực giáo dục nhờ vào "tiến bộ kỳ diệu về kỹ thuật, về các nghiên cứu khoa học", trên "những kinh nghiệm mới và sự phát triển về các phương pháp giáo dục và giáo huấn" và khi thấy Giáo Hội đòi hỏi mọi người phải được hưởng "một nền giáo dục xứng hợp với nhu cầu của tâm linh và phái tính, với truyền thống quốc gia hầu tiến đến một sự hợp nhất đích thực và một nền hòa bình trên thế giới". Người ta sung sướng khi thấy có một số điều cấm đoán và xác định tính cách bấp bênh của nhị nguyên thuyết từ lâu vẫn chủ trương tách biệt thể xác với linh hồn, cộng đoàn quốc gia với cộng đồng quốc tế.

Bởi đó, Giáo Hội không cón tự coi mình như là thẩm cấp duy nhất và là con đường độc nhất trong việc tìm cách chu toàn sứ mệnh của con người nữa, vì không những Giáo Hội chấp nhận những chiều hướng tuy khác mình nhưng cùng tiến tới một mục đích, mà còn sung sướng được trông thấy nhiều công cuộc đem lại lợi ích thực sự cho con người.

Trước kia Giáo Hội và thế giới dân sự vẫn cách biệt nhau, nhưng vì là con cái của cả hai xã hội đó, ngày nay chúng ta sung sướng khi thấy họ hòa hợp lại với nhau để cùng gánh vác những công việc nặng nề và cùng nỗ lực xây dựng một lâu đài độc nhất là sự thành công của con người nay ở đời này cũng như sửa soạn cho cuộc sống vinh hiển muôn đời.

3. Sau hết, văn kiện đề cập tới những tổ chức thuộc về các hoạt động giáo dục như là học đường, một "môi trường phát triển các khả năng, óc phán đoán và giúp khám phá những di sản văn hóa của các thế hệ trước, đề cao các giá trị, chuẩn bị cho cuộc sống chức nghiệp và biết thông cảm lẫn nhau".

Như thế học đường vượt trên những chiều hướng vật chất và bao gồm tất cả các hệ thống có ảnh hưởng trên chủ thể thụ huấn: gia đình "học đường đầu tiên dạy các đức tính xã hội" và cách riêng là môi trường học đường với mọi "yếu tố" trực tiếp ảnh hưởng ít nhiều như: thầy dạy, bạn bè, bản tín và phẩm chất của việc giáo dục, các phương pháp cũng như tất cả các điều kiện khác giúp cho việc giáo dục thành công: "trình độ học vấn, sức khỏe học sinh và qui chế học đường".

Trong quá khứ, vì sự va chạm giữa hai quyền bính tôn giáo và thế tục đã gây nên một cuộc tranh chiếm độc quyền học đường. Vì thế văn kiện nêu ra nguyên tắc tương trợ để loại bỏ tệ đoan đó và chấp nhận người công dân có quyền đòi hỏi ít ra trong trường hợp chính quyền thiếu sót, được tự do chọn lựa trường học cho con em hợp với tín ngưỡng của họ.

Những vị có trách nhiệm giáo dục chính thức trước hết phải kể tới các bậc phụ huynh. Nhưng trong thực tế, vì việc giáo dục đòi hỏi những điều kiện vượt quá khả năng của mỗi cá nhân, nên xã hội lại phải đảm nhiệm tổ chức "những gì cần thiết cho lợi ích chung của con người": bảo đảm quyền lợi và bổn phận của các phụ huynh, giúp đỡ họ, thiết lập các trường sở giáo dục.

Trên cương vị quốc gia, nhà nước cụ thể hóa quyền lợi và nghĩa vụ tự nhiên này bằng cách phân phối cho một cơ quan tối cao để tổ chức và điều hành đời sống của từng cá nhân trong các nhóm người.

Bản Tuyên Ngôn còn hàm chứa cả một ý niệm về giáo dục và huấn luyện những hoạt động nhằm thăng tiến con người, từ việc dạy A B C cho người lớn tuổi, chăm sóc các trẻ bất thường trong những cơ sở chuyên biệt, mở trường dạy văn hóa chuyên nghiệp và kỹ thuật cho tới những cơ sở vĩ đại quảng bá nền văn hóa phổ thông hay khoa học chuyên môn; những phân khoa thần học cũng có nhiệm vụ phải cố gắng giúp con người thành công mỹ mãn trong cả hai chiều hướng tư nhiên và siêu nhiên.

Ba khía cạnh của văn kiện chúng ta vừa phân tích tóm kết đại cương một cách khá trung thực ý hướng của Thánh Công Ðồng đề cập đến một trong những vấn đề trọng yếu của thế giới theo chiều hướng đầy đủ, phong phú và cao đẹp nhất.

Như vậy cũng đã tạm đủ để chúng ta lưu tâm tới khía cạnh hào hứng nhất của vấn đề đã hình thành tư tưởng của Giáo Hội về một điều kiện thiết yếu để cứu rỗi nhân loại.

Kết luận

Trước khi đọc nguyên bản, chúng tôi ước mong mọi người đọc nó với tất cả tinh thần mà Ðức Gioan XXIII, vị khởi xướng Công Ðồng, đã đề ra tức là chú ý đến những hiện trạng của thế giới ngày nay. Trong khi chú thích một vài tư tưởng, chúng tôi đặc biệt khai thác, duy trì và nhấn mạnh tới sự hòa hợp những viễn tượng hiện đang là mối bận tâm của Giáo Hội và thế giới hôm nay với niềm hy vọng sẽ đem lại cho nhân loại những thành quả thật mỹ mãn.


*******


DECLARATION ON CHRISTIAN EDUCATION
GRAVISSIMUM EDUCATIONIS
PROCLAIMED BY
HIS HOLINESS
POPE PAUL VI
ON OCTOBER 28, 1965



INTRODUCTION

The Sacred Ecumenical Council has considered with care how extremely important education is in the life of man and how its influence ever grows in the social progress of this age.(1)

Indeed, the circumstances of our time have made it easier and at once more urgent to educate young people and, what is more, to continue the education of adults. Men are more aware of their own dignity and position; more and more they want to take an active part in social and especially in economic and political life.(2) Enjoying more leisure, as they sometimes do, men find that the remarkable development of technology and scientific investigation and the new means of communication offer them an opportunity of attaining more easily their cultural and spiritual inheritance and of fulfilling one another in the closer ties between groups and even between peoples.

Consequently, attempts are being made everywhere to promote more education. The rights of men to an education, particularly the primary rights of children and parents, are being proclaimed and recognized in public documents.(3) As the number of pupils rapidly increases, schools are multiplied and expanded far and wide and other educational institutions are established. New experiments are conducted in methods of education and teaching. Mighty attempts are being made to obtain education for all, even though vast numbers of children and young people are still deprived of even rudimentary training and so many others lack a suitable education in which truth and love are developed together.

To fulfill the mandate she has received from her divine founder of proclaiming the mystery of salvation to all men and of restoring all things in Christ, Holy Mother the Church must be concerned with the whole of man's life, even the secular part of it insofar as it has a bearing on his heavenly calling.(4) Therefore she has a role in the progress and development of education. Hence this sacred synod declares certain fundamental principles of Christian education especially in schools. These principles will have to be developed at greater length by a special post-conciliar commission and applied by episcopal conferences to varying local situations.


1. The Meaning of the Universal Right to an Education

All men of every race, condition and age, since they enjoy the dignity of a human being, have an inalienable right to an education (5) that is in keeping with their ultimate goal,(6) their ability, their sex, and the culture and tradition of their country, and also in harmony with their fraternal association with other peoples in the fostering of true unity and peace on earth. For a true education aims at the formation of the human person in the pursuit of his ultimate end and of the good of the societies of which, as man, he is a member, and in whose obligations, as an adult, he will share.

Therefore children and young people must be helped, with the aid of the latest advances in psychology and the arts and science of teaching, to develop harmoniously their physical, moral and intellectual endowments so that they may gradually acquire a mature sense of responsibility in striving endlessly to form their own lives properly and in pursuing true freedom as they surmount the vicissitudes of life with courage and constancy. Let them be given also, as they advance in years, a positive and prudent sexual education. Moreover they should be so trained to take their part in social life that properly instructed in the necessary and opportune skills they can become actively involved in various community organizations, open to discourse with others and willing to do their best to promote the common good.

This sacred synod likewise declares that children and young people have a right to be motivated to appraise moral values with a right conscience, to embrace them with a personal adherence, together with a deeper knowledge and love of God. Consequently it earnestly entreats all those who hold a position of public authority or who are in charge of education to see to it that youth is never deprived of this sacred right. It further exhorts the sons of the Church to give their attention with generosity to the entire field of education, having especially in mind the need of extending very soon the benefits of a suitable education and training to everyone in all parts of the world.(7)


2. Christian Education

Since all Christians have become by rebirth of water and the Holy Spirit a new creature(8) so that they should be called and should be children of God, they have a right to a Christian education. A Christian education does not merely strive for the maturing of a human person as just now described, but has as its principal purpose this goal: that the baptized, while they are gradually introduced the knowledge of the mystery of salvation, become ever more aware of the gift of Faith they have received, and that they learn in addition how to worship God the Father in spirit and truth (cf. John 4:23) especially in liturgical action, and be conformed in their personal lives according to the new man created in justice and holiness of truth (Eph. 4:22-24); also that they develop into perfect manhood, to the mature measure of the fullness of Christ (cf. Eph. 4:13) and strive for the growth of the Mystical Body; moreover, that aware of their calling, they learn not only how to bear witness to the hope that is in them (cf. Peter 3:15) but also how to help in the Christian formation of the world that takes place when natural powers viewed in the full consideration of man redeemed by Christ contribute to the good of the whole society.(9) Wherefore this sacred synod recalls to pastors of souls their most serious obligation to see to it that all the faithful, but especially the youth who are the hope of the Church, enjoy this Christian education.(10)


3. The Authors of Education


Since parents have given children their life, they are bound by the most serious obligation to educate their offspring and therefore must be recognized as the primary and principal educators.(11) This role in education is so important that only with difficulty can it be supplied where it is lacking. Parents are the ones who must create a family atmosphere animated by love and respect for God and man, in which the well-rounded personal and social education of children is fostered. Hence the family is the first school of the social virtues that every society needs. It is particularly in the Christian family, enriched by the grace and office of the sacrament of matrimony, that children should be taught from their early years to have a knowledge of God according to the faith received in Baptism, to worship Him, and to love their neighbor. Here, too, they find their first experience of a wholesome human society and of the Church. Finally, it is through the family that they are gradually led to a companionship with their fellowmen and with the people of God. Let parents, then, recognize the inestimable importance a truly Christian family has for the life and progress of God's own people.(12)

The family which has the primary duty of imparting education needs help of the whole community. In addition, therefore, to the rights of parents and others to whom the parents entrust a share in the work of education, certain rights and duties belong indeed to civil society, whose role is to direct what is required for the common temporal good. Its function is to promote the education of youth in many ways, namely: to protect the duties and rights of parents and others who share in education and to give them aid; according to the principle of subsidiarity, when the endeavors of parents and other societies are lacking, to carry out the work of education in accordance with the wishes of the parents; and, moreover, as the common good demands, to build schools and institutions.(13)

Finally, in a special way, the duty of educating belongs to the Church, not merely because she must be recognized as a human society capable of educating, but especially because she has the responsibility of announcing the way of salvation to all men, of communicating the life of Christ to those who believe, and, in her unfailing solicitude, of assisting men to be able to come to the fullness of this life.(14) The Church is bound as a mother to give to these children of hers an education by which their whole life can be imbued with the spirit of Christ and at the same time do all she can to promote for all peoples the complete perfection of the human person, the good of earthly society and the building of a world that is more human.(15)


4. Various Aids to Christian Education

In fulfilling its educational role, the Church, eager to employ all suitable aids, is concerned especially about those which are her very own. Foremost among these is catechetical instruction,(16) which enlightens and strengthens the faith, nourishes life according to the spirit of Christ, leads to intelligent and active participation in the liturgical mystery(17) and gives motivation for apostolic activity. The Church esteems highly and seeks to penetrate and ennoble with her own spirit also other aids which belong to the general heritage of man and which are of great influence in forming souls and molding men, such as the media of communication,(18) various groups for mental and physical development, youth associations, and, in particular, schools.


5. The Importance of Schools

Among all educational instruments the school has a special importance.(19) It is designed not only to develop with special care the intellectual faculties but also to form the ability to judge rightly, to hand on the cultural legacy of previous generations, to foster a sense of values, to prepare for professional life. Between pupils of different talents and backgrounds it promotes friendly relations and fosters a spirit of mutual understanding; and it establishes as it were a center whose work and progress must be shared together by families, teachers, associations of various types that foster cultural, civic, and religious life, as well as by civil society and the entire human community.

Beautiful indeed and of great importance is the vocation of all those who aid parents in fulfilling their duties and who, as representatives of the human community, undertake the task of education in schools. This vocation demands special qualities of mind and heart, very careful preparation, and continuing readiness to renew and to adapt.


6. The Duties and Rights of Parents


Parents who have the primary and inalienable right and duty to educate their children must enjoy true liberty in their choice of schools. Consequently, the public power, which has the obligation to protect and defend the rights of citizens, must see to it, in its concern for distributive justice, that public subsidies are paid out in such a way that parents are truly free to choose according to their conscience the schools they want for their children.(20)

In addition it is the task of the state to see to it that all citizens are able to come to a suitable share in culture and are properly prepared to exercise their civic duties and rights. Therefore the state must protect the right of children to an adequate school education, check on the ability of teachers and the excellence of their training, look after the health of the pupils and in general, promote the whole school project. But it must always keep in mind the principle of subsidiarity so that there is no kind of school monopoly, for this is opposed to the native rights of the human person, to the development and spread of culture, to the peaceful association of citizens and to the pluralism that exists today in ever so many societies.(21)

Therefore this sacred synod exhorts the faithful to assist to their utmost in finding suitable methods of education and programs of study and in forming teachers who can give youth a true education. Through the associations of parents in particular they should further with their assistance all the work of the school but especially the moral education it must impart.(22)


7. Moral and Religious Education in all Schools


Feeling very keenly the weighty responsibility of diligently caring for the moral and religious education of all her children, the Church must be present with her own special affection and help for the great number who are being trained in schools that are not Catholic. This is possible by the witness of the lives of those who teach and direct them, by the apostolic action of their fellow-students,(23) but especially by the ministry of priests and laymen who give them the doctrine of salvation in a way suited to their age and circumstances and provide spiritual aid in every way the times and conditions allow.

The Church reminds parents of the duty that is theirs to arrange and even demand that their children be able to enjoy these aids and advance in their Christian formation to a degree that is abreast of their development in secular subjects. Therefore the Church esteems highly those civil authorities and societies which, bearing in mind the pluralism of contemporary society and respecting religious freedom, assist families so that the education of their children can be imparted in all schools according to the individual moral and religious principles of the families.(24)


8. Catholic Schools

The influence of the Church in the field of education is shown in a special manner by the Catholic school. No less than other schools does the Catholic school pursue cultural goals and the human formation of youth. But its proper function is to create for the school community a special atmosphere animated by the Gospel spirit of freedom and charity, to help youth grow according to the new creatures they were made through baptism as they develop their own personalities, and finally to order the whole of human culture to the news of salvation so that the knowledge the students gradually acquire of the world, life and man is illumined by faith.(25) So indeed the Catholic school, while it is open, as it must be, to the situation of the contemporary world, leads its students to promote efficaciously the good of the earthly city and also prepares them for service in the spread of the Kingdom of God, so that by leading an exemplary apostolic life they become, as it were, a saving leaven in the human community.

Since, therefore, the Catholic school can be such an aid to the fulfillment of the mission of the People of God and to the fostering of the dialogue between the Church and mankind, to the benefit of both, it retains even in our present circumstances the utmost importance. Consequently this sacred synod proclaims anew what has already been taught in several documents of the magisterium,(26) namely: the right of the Church freely to establish and to conduct schools of every type and level. And the council calls to mind that the exercise of a right of this kind contributes in the highest degree to the protection of freedom of conscience, the rights of parents, as well as to the betterment of culture itself.

But let teachers recognize that the Catholic school depends upon them almost entirely for the accomplishment of its goals and programs.(27) They should therefore be very carefully prepared so that both in secular and religious knowledge they are equipped with suitable qualifications and also with a pedagogical skill that is in keeping with the findings of the contemporary world. Intimately linked in charity to one another and to their students and endowed with an apostolic spirit, may teachers by their life as much as by their instruction bear witness to Christ, the unique Teacher. Let them work as partners with parents and together with them in every phase of education give due consideration to the difference of sex and the proper ends Divine Providence assigns to each sex in the family and in society. Let them do all they can to stimulate their students to act for themselves and even after graduation to continue to assist them with advice, friendship and by establishing special associations imbued with the true spirit of the Church. The work of these teachers, this sacred synod declares, is in the real sense of the word an apostolate most suited to and necessary for our times and at once a true service offered to society. The Council also reminds Catholic parents of the duty of entrusting their children to Catholic schools wherever and whenever it is possible and of supporting these schools to the best of their ability and of cooperating with them for the education of their children.(28)


9. Different Types of Catholic Schools

To this concept of a Catholic school all schools that are in any way dependent on the Church must conform as far as possible, though the Catholic school is to take on different forms in keeping with local circumstances.(29) Thus the Church considers very dear to her heart those Catholic schools, found especially in the areas of the new churches, which are attended also by students who are not Catholics.

Attention should be paid to the needs of today in establishing and directing Catholic schools. Therefore, though primary and secondary schools, the foundation of education, must still be fostered, great importance is to be attached to those which are required in a particular way by contemporary conditions, such as: professional(30) and technical schools, centers for educating adults and promoting social welfare, or for the retarded in need of special care, and also schools for preparing teachers for religious instruction and other types of education.

This Sacred Council of the Church earnestly entreats pastors and all the faithful to spare no sacrifice in helping Catholic schools fulfill their function in a continually more perfect way, and especially in caring for the needs of those who are poor in the goods of this world or who are deprived of the assistance and affection of a family or who are strangers to the gift of Faith.


10. Catholic Colleges and Universities

The Church is concerned also with schools of a higher level, especially colleges and universities. In those schools dependent on her she intends that by their very constitution individual subjects be pursued according to their own principles, method, and liberty of scientific inquiry, in such a way that an ever deeper understanding in these fields may be obtained and that, as questions that are new and current are raised and investigations carefully made according to the example of the doctors of the Church and especially of St. Thomas Aquinas,(31) there may be a deeper realization of the harmony of faith and science. Thus there is accomplished a public, enduring and pervasive influence of the Christian mind in the furtherance of culture and the students of these institutions are molded into men truly outstanding in their training, ready to undertake weighty responsibilities in society and witness to the faith in the world.(32)

In Catholic universities where there is no faculty of sacred theology there should be established an institute or chair of sacred theology in which there should be lectures suited to lay students. Since science advances by means of the investigations peculiar to higher scientific studies, special attention should be given in Catholic universities and colleges to institutes that serve primarily the development of scientific research.

The sacred synod heartily recommends that Catholic colleges and universities be conveniently located in different parts of the world, but in such a way that they are outstanding not for their numbers but for their pursuit of knowledge. Matriculation should be readily available to students of real promise, even though they be of slender means, especially to students from the newly emerging nations.

Since the destiny of society and of the Church itself is intimately linked with the progress of young people pursuing higher studies,(33) the pastors of the Church are to expend their energies not only on the spiritual life of students who attend Catholic universities, but, solicitous for the spiritual formation of all their children, they must see to it, after consultations between bishops, that even at universities that are not Catholic there should be associations and university centers under Catholic auspices in which priests, religious and laity, carefully selected and prepared, should give abiding spiritual and intellectual assistance to the youth of the university. Whether in Catholic universities or others, young people of greater ability who seem suited for teaching or research should be specially helped and encouraged to undertake a teaching career.


11. Faculties of Sacred Sciences

The Church expects much from the zealous endeavors of the faculties of the sacred sciences.(34) For to them she entrusts the very serious responsibility of preparing her own students not only for the priestly ministry, but especially for teaching in the seats of higher ecclesiastical studies or for promoting learning on their own or for undertaking the work of a more rigorous intellectual apostolate. Likewise it is the role of these very faculties to make more penetrating inquiry into the various aspects of the sacred sciences so that an ever deepening understanding of sacred Revelation is obtained, the legacy of Christian wisdom handed down by our forefathers is more fully developed, the dialogue with our separated brethren and with non-Christians is fostered, and answers are given to questions arising from the development of doctrine.(35)

Therefore ecclesiastical faculties should reappraise their own laws so that they can better promote the sacred sciences and those linked with them and, by employing up-to-date methods and aids, lead their students to more penetrating inquiry.


12. Coordination to be Fostered in Scholastic Matters

Cooperation is the order of the day. It increases more and more to supply the demand on a diocesan, national and international level. Since it is altogether necessary in scholastic matters, every means should be employed to foster suitable cooperation between Catholic schools, and between these and other schools that collaboration should be developed which the good of all mankind requires.(36) From greater coordination and cooperative endeavor greater fruits will be derived particularly in the area of academic institutions. Therefore in every university let the various faculties work mutually to this end, insofar as their goal will permit. In addition, let the universities also endeavor to work together by promoting international gatherings, by sharing scientific inquiries with one another, by communicating their discoveries to one another, by having exchange of professors for a time and by promoting all else that is conducive to greater assistance.


CONCLUSION

The sacred synod earnestly entreats young people themselves to become aware of the importance of the work of education and to prepare themselves to take it up, especially where because of a shortage of teachers the education of youth is in jeopardy. This same sacred synod, while professing its gratitude to priests, Religious men and women, and the laity who by their evangelical self-dedication are devoted to the noble work of education and of schools of every type and level, exhorts them to persevere generously in the work they have undertaken and, imbuing their students with the spirit of Christ, to strive to excel in pedagogy and the pursuit of knowledge in such a way that they not merely advance the internal renewal of the Church but preserve and enhance its beneficent influence upon today's world, especially the intellectual world.

NOTES

1. Among many documents illustrating the importance of education confer above all apostolic letter of Benedict XV, Communes Litteras, April 10, 1919: A.A.S. 11 (1919) p. 172. Pius XI's apostolic encyclical, Divini Illius Magistri, Dec. 31, 1929: A.A.S. 22 (1930) pp. 49-86. Pius XII's allocution to the youths of Italian Catholic Action, April 20, 1946: Discourses and Radio Messages, vol. 8, pp. 53-57. Allocution to fathers of French families, Sept. 18, 1951: Discourses and Radio Messages, vol. 13, pp. 241-245. John XXIII's 30th anniversary message on the publication of the encyclical letter, Divini Illius Magistri, Dec. 30, 1959: A.A.S. 52 (1960) pp. 57-S9. Paul VI's allocution to members of Federated Institutes Dependent on Ecclesiastic Authority, Dec. 30, 1963: Encyclicals and Discourses of His Holiness Paul VI, Rome, 1964, pp. 601-603. Above all are to be consulted the Acts and Documents of the Second Vatican Council appearing in the first series of the ante-preparatrory phase. vol. 3. pp. 363-364; 370-371; 373-374.

2. Cf. John XXIII's encyclical letter Mater et Magistra, May 15, 1961: A.A.S. 53 (1961) pp. 413-415; 417-424; Encyclical letter, Pacem in Terris, April 11, 1963: A.A.S. 55 (1963) p. 278 ff.

3. Declaration on the Rights of Man of Dec. 10, 1948, adopted by the General Assembly of the United Nations, and also cf. the Declaration of the Rights of Children of Nov. 20 1959; additional protocol to the Convention Safeguarding the Rights of Men and Fundamental Liberties, Paris, March 20, 1952; regarding that universal profession of the character of human laws cf. apostolic letter Pacem in Terris, of John XXIII of April 11, 1963: A.A.S. 55 (1963) p. 295 ff.

4. Cf. John XXIII's encyclical letter, Mater et Magistra, May 15, 1961: A.A.S. 53 (1961) p. 402. Cf. Second Vatican Council's Dogmatic Constitution on the Church, no. 17: A.A.S. 57 (1965) p. 21, and schema on the Pastoral Constitution on the Church in the Modern World, 1965.

5. Pius XII's radio message of Dec. 24, 1942: A.A.S. 35 (1943) pp. 12-19, and John XXIII's encyclical letter, Pacem in Terris April 11, 1963: A.A.S. 55 (1963) p. 259 ff. Also cf. declaration cited on the rights of man in footnote 3.

6. Cf. Pius XI's encyclical letter, Divini Illius Magistri, Dec. 31, 1929: A.A.S. 22 (1930) p. 50 ff.

7. Cf. John XXIII's encyclical letter, Mater et Magistra, May 15 1961: A.A.S. 53 (1961) p. 441 ff.

8. Cf. Pius XI's encyclical letter, Divini Illius Magistri 1, p. 83.

9. Cf. Second Vatican Council's Dogmatic Constitution on the Church, no. 36: A.A.S. 57 (1965) p. 41 ff.

10. Cf. Second Vatican Council's schema on the Decree on the Lay Apostolate (1965), no. 12.

11. Cf. Pius XI's encyclical letter Divini Illius Magistri, 1, p. 59 ff., encyclical letter Mit Brennender Sorge, March 14, 1937: A.A.S. 29; Pius XII's allocution to the first national congress of the Italian Catholic Teachers' Association, Sept. 8, 1946: Discourses and Radio Messages, vol. 8, p. 218.

12. Cf. Second Vatican Council's Dogmatic Constitution on the Church, nos. 11 and 35: A.A.S. 57 (1965) pp. 16, 40 ff.

13. Cf. Pius XI's encyclical letter Divini Illius Magistri, 1, p. 63 ff. Pius XII's radio message of June 1, 1941: A.A.S. 33 (1941) p. 200; allocution to the first national congress of the Association of Italian Catholic Teachers, Sept 8, 1946: Discourses and Radio Messages, vol. 8, 1946: Discourses and Radio Messages, vol. 8 p. 218. Regarding the principle of subsidiarity, cf. John XXIII's encyclical letter, Pacem in Terris, April 11, 1963: A.A.S. 55 (1963) p. 294.

14. Cf. Pius XI's encyclical letter, Divini Illius Magistri, 1 pp. 53 ff. and 56 ff.; Encyclical letter, Non Abbiamo Bisogno June 29, 1931: A.A.S. 23 (1931) p. 311 ff. Pius XII's letter from Secretariat of State to 28th Italian Social Week, Sept. 20, 1955; L'Osservatore Romano, Sept. 29, 1955.

15. The Church praises those local, national and international civic authorities who, conscious of the urgent necessity in these times, expend all their energy so that all peoples may benefit from more education and human culture. Cf. Paul VI's allocution to the United Nations General Assembly, Oct. 4, 1965: L'Osservatore Romano, Oct. 6, 1965.

16. Cf. Pius XI's motu proprio. Orbem Catholicum, June 29 1923: A.A.S. 15 (1923) pp. 327-329; decree, Provide Sane, Jan. 12, 1935: A.A.S. 27 (1935) pp. 145-152. Second Vatican Council's Decree on Bishops and Pastoral Duties, nos. 13 and 14.

17. Cf. Second Vatican Council's Constitution on the Sacred Liturgy, no. 14: A.A.S. 56 (1964) p. 104.

18. Cf. Second Vatican Council's Decree on Communications Media, nos. 13 and 14: A.A.S. 56 (1964) p. 149 ff.

19. Cf. Pius XI's encyclical letter, Divini Illius Magistri, 1, p. 76; Pius XII's allocution to Bavarian Association of Catholic Teachers, Dec. 31, 1956: Discourses and Radio Messages, vol. 18, p. 746.

20. Cf. Provincial Council of Cincinnati III, a. 1861: Collatio Lacensis, III, col. 1240, c/d; Pius XI's encyclical letter, Divini Illius Magistri, 1, pp. 60, 63 ff.

21. Cf. Pius XI's encyclical letter, Divini Illius Magistri, 1, p. 63; encyclical letter, Non Abbiamo Bisogno, June 29, 1931: A.A.S. 23 (1931) p. 305, Pius XII's letter from the Secretary of State to the 28th Italian Social Week, Sept. 20, 1955: L'Osservatore Romano, Sept. 29, 1955. Paul VI's allocution to the Association of Italian Christian Workers, Oct. 6, 1963: Encyclicals and Discourses of Paul VI, vol. 1, Rome, 1964, p. 230.

22. Cf. John XXIII's message on the 30th anniversary of the encyclical letter, Divini Illius Magistri, Dec. 30, 1959: A.A.S. 52 (1960) p. 57.

23. The Church considers it as apostolic action of great worth also when Catholic teachers and associates work in these schools. Cf. Second Vatican Council's schema of the Decree on the Lay Apostolate (1965), nos. 12 and 16.

24. Cf. Second Vatican Council's schema on the Declaration on Religious Liberty (1965), no. 5.

25. Cf. Provincial Council of Westminster I, a. 1852: Collatio Lacensis III, col. 1334, a/b; Pius XI's encyclical letter, Divini Illius Magistri, 1, p. 77 ff.; Pius XII's allocution to the Bavarian Association of Catholic Teachers, Dec. 31, 1956: Discourses and Radio Messages, vol. 18, p. 746; Paul VI's allocution to the members of Federated Institutes Dependent on Ecclesiastic Authority, Dec. 30, 1963: Encyclicals and Discourses of Paul VI, 1, Rome, 1964, 602 ff.

26. Cf. especially the document mentioned in the first note; moreover this law of the Church is proclaimed by many provincial councils and in the most recent declarations of very many of the episcopal conferences.

27. Cf. Pius XI's encyclical letter, Divini Illius Magistri, 1 p. 80 ff.; Pius XII's allocution to the Catholic Association of Italian Teachers in Secondary Schools, Jan. 5, 1954: Discourses and Radio Messages, 15, pp. 551-55B; John XXIII's allocution to the 6th Congress of the Associations of Catholic Italian Teachers Sept. 5, 1959: Discourses, Messages, Conversations, 1, Rome,1960, pp. 427-431.

28. Cf. Pius XII's allocution to the Catholic Association of Italian Teachers in Secondary Schools, Jan. 5, 1954, 1, p. 555.

29. Cf. Paul VI's allocution to the International Office of Catholic Education, Feb. 25, 1964: Encyclicals and Discourses of Paul VI, 2, Rome, 1964, p. 232.

30. Cf. Paul VI's allocution to the Christian Association of Italian Workers, Oct. 6, 1963: Encyclicals and Discourses of Paul VI, 1, Rome, 1964, p. 229.

31. Cf. Paul VI's allocution to the International Thomistic Congress, Sept. 10, 1965: L'Osservatore Romano, Sept. 13-14, 1965.

32. Cf. Pius XII's allocution to teachers and students of French Institutes of Higher Catholic Education, Sept. 21, 1950: Discourses and Radio Messages, 12, pp. 219-221; letters to the 22nd congress of Pax Romana, Aug. 12, 1952: Discourses and Radio Messages, 14, pp. 567-569; John XXIII's allocution to the Federation of Catholic Universities, April 1, 1959: Discourses, Messages and Conversations, 1, Rome, 1960, pp. 226-229; Paul VI's allocution to the Academic Senate of the Catholic University of Milan, April 5, 1964: Encyclicals and Discourses of Paul VI, 2, Rome, 1964, pp. 438-443.

33. Cf. Pius XII's allocution to the academic senate and students of the University of Rome, June 15, 1952: Discourses and Radio Messages, 14, p. 208: "The direction of today's society principally is placed in the mentality and hearts of the universities of today."

34. Cf. Pius XII's apostolic constitution, Deus Scientiarum Dominus, May 24, 1931: A.A.S. 23 (1931) pp. 245-247.

35. Cf. Pius XII's encyclical letter, Humani Generis Aug. 12, 1950 A.A.S. 42 (1950) pp. 568 ff. and 578; Paul VI's encyclical letter, Ecclesiam Suam, part III Aug. 6, 1964; A.A.S. 56 (1964) pp. 637-659; Second Vatican Council's Decree on Ecumenism: A.A.S. 57 (1965) pp. 90-107.

36. Cf. John XXIII's encyclical letter, Pacem in Terris, April 11, 1963: A.A.S. 55 (1963) p. 284 and elsewhere.

Source of http://www.vatican.va/archive/hist_councils/ii_vatican_council/documents/vat-ii_decl_19651028_gravissimum-educationis_en.html

Tags:
Viết nhận xét

Comment văn minh và lịch sự không spam
Câu hỏi chi tiết rõ ràng có demo kèm lời giải thích. Thanks

Tên gọi [Đăng ký]
Mật khẩu - Khách không cần mật khẩu
Địa chỉ web
Email
Mở HTML Mở UBB Mở hình vui Ẩn giấu Hãy nhớ
               
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
Powered by Bo-Blog 2.1.1 ReleaseCode detection by Bug.Center.Team